Linh Dụ

《靈裕》 líng yù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(518-605) Danh Tăng Trung Quốc, sống vào đời Tùy, người huyện Khúc dương, Định châu (Tỉnh Hà bắc), họ Triệu. Năm 18 tuổi, sư Xuất Gia ở chùa Ứng giác tại quận Triệu. Năm 22 tuổi, sư theo ngài Đạo Bằng Học Địa luận, 3 năm sau, trở về Định châu, Thụ Giới Cụ Túc. Năm 26 tuổi, sư theo ngài Ẩn công học luật Tứ phần, theo 2 ngài Tung, Lâm học luận Thành thực, theo 3 ngài An, Du, Vinh học luận Tạp a tì đàm tâm. Sau, sư theo học ngài Đại Thống Pháp Thượng (495-580), từ đó sư chuyên học Hoa nghiêm, Niết Bàn, Địa luận, Luật bộ. Sư còn thông suốt cả Ngoại Điển, nổi tiếng ở đất nghiệp. Lúc học hỏi, sư thường tìm hiểu sâu rộng những cách giải thích xưa và phát hiện những điều mới lạ. Khi giảng thuyết thì sư chỉ nói về cương lĩnh, chứ không giảng từng câu từng chữ, do đó 7 chúng đều cảm phục, tôn sư là Dụ Bồ Tát. Khi Vũ đế nhà Bắc Chu hủy diệt Phật Pháp, sư hướng dẫn hơn 20 vị tăng đồng học vào ở trong xóm làng vắng vẻ, ban ngày đọc sách đời, ban đêm bàn Phật lí. Đến đời Tùy giáo pháp được phục hưng, sư đi du hóa các vùng Yên, Triệu v.v... Năm Khai hoàng thứ 10 (590) sư đến chùa Linh Thông ở Lạc châu, năm sau sư trụ ở chùa Đại từ tại Tương châu, rồi vâng sắc trụ ở chùa Hưng thiện tại Trường an. Vua muốn trao chức Quốc Thống cho sư, nhưng sư nhất định chối từ, rồi trở về trụ ở chùa Diễn không tại Tương châu, chuyên việc thuyết giảng. Niên hiệu Đại nghiệp năm đầu (605) sư tịch, thọ 88 tuổi. Sư có các tác phẩm: Thập Địa kinh sớ, Duy Ma Kinh Sớ, Bát Nhã kinh sớ, Đại Thừa Nghĩa Chương, Thánh tích kí, Phật Pháp đông hành kí, An dân luận, Diệt pháp luận, Tế thế Tam Bảo kí. [X. Tục Cao Tăng Truyện Q. 9.; Hoa Nghiêm Kinh Truyện Kí Q. 2.; Thích Thị Lục Thiếp Q.hạ; Tân tu khoa phân lục Học Tăng truyện Q. 13.; Tân Biên Chư Tông Giáo Tạng Tổng Lục Q. 2.; Cựu đường thư kinh tịch chí thứ 27].