Linh Chiếu

《靈照》 líng zhào

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Linh Chiếu. Nữ Cư Sĩ Phật Giáo Trung Quốc, là con gái của Bàng Uẩn ở Tương châu. Bàng Cư Sĩ Ngữ Lục quyển thượng (Vạn tục 120, 31 hạ), ghi: Cư Sĩ sắp nhập tịch, bảo Linh Chiếu rằng: Hãy xem chừng mặt trời, hễ đến giờ ngọ thì báo cho ta biết. Linh Chiếu liền thưa: Mặt trời đã đúng ngọ rồi, nhưng bị nhật thực. Cư Sĩ vừa bước ra cửa để xem, Linh Chiếu liền lên chỗ ngồi của cha, ngồi chắp tay mà hóa. Cư Sĩ cười bảo: Con gái của ta nhanh thật!. Người sau dùng tên Linh Chiếu để gọi chung cho các cô gái. [X. Phật Tổ Thống Kỉ Q. 40.].
II. Linh Chiếu (870-947). Thiền Sư Cao li, đến Trung Quốc vào thời Ngũ đại. Đầu tiên, sư đến Mân (Phúc kiến), Việt (Chiết giang) tham lễ ngài Tuyết phong Nghĩa Tồn và được nối pháp. Tính Sư điềm đạm, sống đơn giản, chỉ giữ 1 áo nạp (áo vá), siêng làm mọi việc, người vùng Mân gọi sư là Chiếu Bá Nạp (Linh Chiếu áo vải). Sư lần lượt ở núi Tề vân tại Vụ châu, viện Kính thanh ở Việt châu, viện Báo từ, người đến theo học rất đông. Sau, Trung hiến vương họ Tiền xây chùa Long Hoa ở Hàng châu, thờ Linh Cốt của Phó Đại Sĩ Kim hoa, ban sắc cho sư làm trụ trì. Năm Thiên phúc 12 (947) sư tịch, thọ 78 tuổi, Thụy HiệuChân Giác Đại Sư. [X. Tổ Đường Tập Q. 11.; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q. 18.; Liên Đăng Hội Yếu Q. 24.].