Lịch Đại Tam Bảo Kỉ
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Khai hoàng Tam Bảo lục, Khai hoàng lục, Tam Bảo lục, Trường phòng lục, Phòng lục. Tác phẩm, 15 quyển, do ông Phí Trường Phòng soạn vào năm Khai hoàng 17 (597), đời Tùy, được thu vào Đại chính tạng tập 49. Nội dung sách này ghi chép về việc hoằng pháp từ sau khi Phật giáo được truyền vào Trung Quốc cho đến đời Tùy và Mục Lục những kinh Phiên Dịch, các sáng tác và soạn thuật. Ngoài ra còn có phụ thêm các truyện kí trong nhà Phật. Toàn sách chia làm 4 phần:
1. Ba quyển đầu là nói về các Đế vương, gồm niên kỉ các triều đại từ nhà Chu đến nhà Tùy và các việc trọng đại trong lịch sử Phật giáo, như suy định năm đản sinh của đức Phật là năm Chu trang vương thứ 10 (689 trước Tây lịch).
2. Chín quyển kế tiếp là nói về sử biên niên các thời đại Dịch Kinh, gồm có: Quyển 4 ghi chép về đời Hậu Hán, quyển 5 ghi chép về đời Ngụy Ngô, quyển 6 ghi chép về đời Tây Tấn, quyển 7 ghi chép về đời Đông Tấn, quyển 8 ghi chép các đời Tiền Tần và Hậu Tần, quyển 9 ghi chép về các đời Tây Tần, Bắc Lương, Ngụy, Tề, Trần, quyển 10 ghi chép về đời Tống, quyển 11 ghi chép các đời Tề, Lương, Chu, quyển 12 ghi chép về đời Tùy. Đầu mỗi quyển có lời tựa, kế đến liệt kê Mục Lục các kinh và theo thứ tự phụ thêm lược truyện của người dịch.
3. Quyển 13 và quyển 14 lần lượt ghi chép Mục Lục của các Kinh Điển Đại Thừa, Tiểu Thừa được đưa vào Tạng, tất cả có 1.076 bộ, 3.325 quyển.
4. Quyển 15 gồm biểu dâng bộ Khai hoàng Tam Bảo lục này lên vua và tổng Mục Lục của toàn sách. Xuất Tam Tạng kí tập do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương ghi chép tường tận về các kinh được dịch ở thời Nam Triều, còn sách này thì ghi chép tỉ mỉ về các kinh được dịch vào thời Bắc Triều, đây là một đặc sắc của sách này, cũng là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo đời Tùy. Một điểm đặc biệt nữa của sách này là về niên đại thì coi trọng Tề, Lương thuộc Nam Bắc Triều, mà xem nhẹ Bắc Ngụy. Thứ tự biên niên là: Tấn, Tống, Tề, Lương, Chu, Tùy. Thể lệ này khác với các sử gia thời Tư Trị Thông Giám trở về trước, nhưng phản ánh được tâm lí chung của người đời Tùy. Cho nên, về phương diện lịch sử, sách này còn phải cần rất nhiều tư liệu để bổ túc. Ngoài ra, về mặt tư liệu, sách này có một số trích dẫn lầm lẫn. Vả lại, đối với chuẩn tắc biên soạn Nhập Tạng lục, Đại Tiểu Thừa kinh lục, v.v... thỉnh thoảng cũng có sự thiên lệch, sai sót, vì thế mà bị Đại Đường Nội Điển Lục quyển 5 chê là vàng thau lẫn lộn, rồi Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 10 cũng phê bình là sự thật bị lẫn lộn. Hơn nữa, sách này còn đưa quá phân nửa trong số hơn 1.000 bộ Kinh Điển mất tên người dịch được ghi trong 2 bộ kinh lục lớn trước đó, là Tông lí Chúng Kinh Mục Lục do ngài Đạo An biên soạn vào đời Phù Tần và Xuất Tam Tạng kí tập do ngài Tăng hựu biên soạn vào đời Lương, gán cho các nhà Dịch Kinh thời cổ như An Thế Cao, v.v... Vì việc làm này thiếu chứng cứ và trái với thường tình nên đã bị các học giả hiện đại như Tiểu Dã Huyền Diệu của Nhật bản, v.v... chê trách nặng nề. [X. truyện Đạt Ma Cấp Đa trong Tục Cao Tăng Truyện Q. 2.; Đại Tạng Thánh Giáo Pháp Bảo Tiêu Mục Q. 9.; Tùy thư kinh tịch chí 29; Đường thư văn nghệ chí 49; Phật Thư Giải Thuyết Đại Từ Điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 2 (Tiểu Dã Huyền Diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển).
1. Ba quyển đầu là nói về các Đế vương, gồm niên kỉ các triều đại từ nhà Chu đến nhà Tùy và các việc trọng đại trong lịch sử Phật giáo, như suy định năm đản sinh của đức Phật là năm Chu trang vương thứ 10 (689 trước Tây lịch).
2. Chín quyển kế tiếp là nói về sử biên niên các thời đại Dịch Kinh, gồm có: Quyển 4 ghi chép về đời Hậu Hán, quyển 5 ghi chép về đời Ngụy Ngô, quyển 6 ghi chép về đời Tây Tấn, quyển 7 ghi chép về đời Đông Tấn, quyển 8 ghi chép các đời Tiền Tần và Hậu Tần, quyển 9 ghi chép về các đời Tây Tần, Bắc Lương, Ngụy, Tề, Trần, quyển 10 ghi chép về đời Tống, quyển 11 ghi chép các đời Tề, Lương, Chu, quyển 12 ghi chép về đời Tùy. Đầu mỗi quyển có lời tựa, kế đến liệt kê Mục Lục các kinh và theo thứ tự phụ thêm lược truyện của người dịch.
3. Quyển 13 và quyển 14 lần lượt ghi chép Mục Lục của các Kinh Điển Đại Thừa, Tiểu Thừa được đưa vào Tạng, tất cả có 1.076 bộ, 3.325 quyển.
4. Quyển 15 gồm biểu dâng bộ Khai hoàng Tam Bảo lục này lên vua và tổng Mục Lục của toàn sách. Xuất Tam Tạng kí tập do ngài Tăng hựu soạn vào đời Lương ghi chép tường tận về các kinh được dịch ở thời Nam Triều, còn sách này thì ghi chép tỉ mỉ về các kinh được dịch vào thời Bắc Triều, đây là một đặc sắc của sách này, cũng là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo đời Tùy. Một điểm đặc biệt nữa của sách này là về niên đại thì coi trọng Tề, Lương thuộc Nam Bắc Triều, mà xem nhẹ Bắc Ngụy. Thứ tự biên niên là: Tấn, Tống, Tề, Lương, Chu, Tùy. Thể lệ này khác với các sử gia thời Tư Trị Thông Giám trở về trước, nhưng phản ánh được tâm lí chung của người đời Tùy. Cho nên, về phương diện lịch sử, sách này còn phải cần rất nhiều tư liệu để bổ túc. Ngoài ra, về mặt tư liệu, sách này có một số trích dẫn lầm lẫn. Vả lại, đối với chuẩn tắc biên soạn Nhập Tạng lục, Đại Tiểu Thừa kinh lục, v.v... thỉnh thoảng cũng có sự thiên lệch, sai sót, vì thế mà bị Đại Đường Nội Điển Lục quyển 5 chê là vàng thau lẫn lộn, rồi Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 10 cũng phê bình là sự thật bị lẫn lộn. Hơn nữa, sách này còn đưa quá phân nửa trong số hơn 1.000 bộ Kinh Điển mất tên người dịch được ghi trong 2 bộ kinh lục lớn trước đó, là Tông lí Chúng Kinh Mục Lục do ngài Đạo An biên soạn vào đời Phù Tần và Xuất Tam Tạng kí tập do ngài Tăng hựu biên soạn vào đời Lương, gán cho các nhà Dịch Kinh thời cổ như An Thế Cao, v.v... Vì việc làm này thiếu chứng cứ và trái với thường tình nên đã bị các học giả hiện đại như Tiểu Dã Huyền Diệu của Nhật bản, v.v... chê trách nặng nề. [X. truyện Đạt Ma Cấp Đa trong Tục Cao Tăng Truyện Q. 2.; Đại Tạng Thánh Giáo Pháp Bảo Tiêu Mục Q. 9.; Tùy thư kinh tịch chí 29; Đường thư văn nghệ chí 49; Phật Thư Giải Thuyết Đại Từ Điển Phật điển tổng luận bộ 2 chương 2 (Tiểu Dã Huyền Diệu)]. (xt. Thất Dịch Kinh Điển).