La Hầu La A Tu La

《羅睺羅阿修羅》 luó hóu luó ā xiū luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Ràhuasura. Gọi tắt: La hầu A Tu La. Hán dịch: Chướng nguyệt; Chấp nhật. Khi đánh nhau với Trời Đế Thích, A Tu La Vương dùng tay che ánh sáng của mặt trời mặt trăng, cho nên có tên là Chướng nguyệt. Là 1 trong 4 loại A Tu La Vương. Kinh Chính Pháp Niệm Xứ quyển 18 đến quyển 21 có nói rõ chỗ ở, cung điện, vườn hoa, người hầu, thể nữ, Nghiệp Nhân và thọ mệnh của 4 Đại A Tu La Vương. Theo đó, thì La Hầu La A Tu La vương này ở trong thành Quang Minh, tầng đất thứ 1 dưới đáy biển, thân hình to lớn bằng Tu Di Sơn vương. Thành Quang Minh rộng 8.000 Do Tuần, vườn rừng phòng xá đều được trang hoàng bằng các thứ báu. Khi A Tu La Vương đưa tay che ánh sáng mặt trời thì thành nhật thực, che ánh sáng mặt trăng thì thành nguyệt thực. Còn về Nghiệp Nhân, trong đời Quá Khứ, khi còn là 1 người Bà La Môn, trông thấy tòa tháp bị cháy liền dập tắt lửa vì thế tòa tháp không bị hư hại, nhờ Phúc Đức ấy mà được quả Báo Thân hình to lớn. Nhưng vì không tin Chính Pháp, chẳng Chính Tư Duy, chẳng tu Chính Nghiệp, thường thích đánh nhau cho nên sau khi chết bị rơi vào đường A Tu La. [X. phẩm A Tu La kinh Khởi thế Q. 5.].