Kinh Tập
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
..... Pàli:Sutta-nipàta. Tập kinh tiếngPàli thuộc tạng Kinh (Tiểu Bộ) của Thượng Tọa Bộ Nam phương, do nhiều bài kinh nhỏ hợp thành. Hình thức Kinh Tập gồm có những bài thơ kệ dài ngắn khác nhau xen lẫn những bài văn xuôi. Nội dung chia làm 5 phẩm: Xà phẩm, Tiểu phẩm, Đại phẩm, Nghĩa phẩm và Bỉ Ngạn đạo phẩm, trong đó, Nghĩa phẩm và Bỉ Ngạn đạo phẩm là 2 phẩm được lưu hành rất sớm, có thể nói đây là tác phẩm xưa nhất trong Thánh Điển Phật giáo nguyên thủy. - Phẩm Xà(Pàli:Uragavagga) có 12 kinh, trong đó Xà kinh ví dụ tỉ khưu tu hành phải xa lìa sự Phân Biệt bờ bên này bờ bên kia, giống như con rắn lột bỏ da cũ; còn kinh Tê giác thì gồm các bài nổi tiếng nói về người tu hành cần phải độc lập như con tê giác 1 sừng. - Tiểu phẩm có 14 bài kinh ngắn. - Đại phẩm có 12 bài kinh dài, trong đó, kinh Xuất Gia, kinh Tinh cần và kinh Na lạc ca là những tư liệu sớm nhất ghi chép về truyện đức Phật còn được bảo tồn; bài kinh thứ 9 nói về lí 4 tính Bình Đẳng, bài kinh thứ 12 thuyết mình về lí Duyên Khởi. - Nghĩa phẩm (Pàli: Atthakavagga): gồm 16 kinh được gọi là phẩm Bát kệ vì phần lớn những bài kinh trong phẩm này đều do 8 bài kệ hợp thành, như: kinh Quật bát kệ(kinh thứ 2), kinh Sân nộ bát kệ(kinh thứ 3). Phẩm này tương đương với kinh Nghĩa túc trong Hán dịch (cũng có 16 kinh). - Bỉ Ngạn đạo phẩm (Pàli: Pàràyanavagga) nội dung gồm có 18 tiết, tiết đầu tiên là bài tựa, tiết cuối cùng là lời kết thúc, 16 tiết còn lại thì nói về việc đức Phật trả lời cho 16 thiếu niên về những điều họ thưa hỏi. Trong Đại Tạng Kinh Nam truyền quyển 24, nhà học giả Nhật bản là ông Thủy Dã Hoằng Nguyên có cho biết về mối quan hệ giữa Kinh Tập với Kinh, Luật, Luận khác và các Kinh Điển Hán dịch như sau: Kinh Tập và Kinh nghĩa túc Hán dịch có 236 bài kệ tương đương(đã trừ những bài kệ trùng lặp), ngoài ra, bộ Đại Sự bằng tiếng Phạm và trong hơn 10 bộ kinh, luật, luận Hán dịch như: Kinh Tạp a hàm, kinh Phật Bản Hạnh tập, luật Hữu Bộ, kinh Trung a hàm, luận Đại trí bộ, luật Tứ phần, v.v... mỗi bộ đều có hơn 20 bài kệ tương đương với những bài kệ tụng trong Kinh Tập. Trong tổng số 1149 bài kệ tụng trong các Kinh, Luật, Luận khác, hiện nay Kinh Tập đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Bản dịch tiếng Anh có: S.B.E. vol. X, part II (Tr. by
V. Fausbôll) 1881; S.B.B.15 (Woven Cadences of Early Buddhist, Tr. by E.M. Hare) 1945; Hos. 37 (Buddha’s Teachings, Tr. by Lord Chalmers) 1932. Bản dịch tiếng Đức có: K.E. Newmann (Die Reden Gotamo Buddho’s) München 1905; Nyàna-tiloka (Das Wort des Buddha) Leipzig 1923. Bản dịch tiếng Nhật có: Quốc dịch Đại Tạng Kinh Kinh bộ tập 13(Lập hoa Tuấn đạo), Thích Ca Mâu Ni Thánh huấn tập (Địch Nguyên Vân Lai), Nam truyền Đại Tạng Kinh quyển 24(Thủy Dã Hoằng Nguyên). Ngoài ra còn có bản hiệu đính của: Dines Andersen anh Helmer Smith (Suttanipàta) new ed. (P.T.S., London 1948). [X. Thiện kiến luật tì Bà Sa Q. 1.; Nyànatiloka: Das Wort des Buddha; R. Hoernle: The Sutta nipàta in a Sanskfit Version from Eastern Turkestan (J.R.A.S. 1916); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II].
V. Fausbôll) 1881; S.B.B.15 (Woven Cadences of Early Buddhist, Tr. by E.M. Hare) 1945; Hos. 37 (Buddha’s Teachings, Tr. by Lord Chalmers) 1932. Bản dịch tiếng Đức có: K.E. Newmann (Die Reden Gotamo Buddho’s) München 1905; Nyàna-tiloka (Das Wort des Buddha) Leipzig 1923. Bản dịch tiếng Nhật có: Quốc dịch Đại Tạng Kinh Kinh bộ tập 13(Lập hoa Tuấn đạo), Thích Ca Mâu Ni Thánh huấn tập (Địch Nguyên Vân Lai), Nam truyền Đại Tạng Kinh quyển 24(Thủy Dã Hoằng Nguyên). Ngoài ra còn có bản hiệu đính của: Dines Andersen anh Helmer Smith (Suttanipàta) new ed. (P.T.S., London 1948). [X. Thiện kiến luật tì Bà Sa Q. 1.; Nyànatiloka: Das Wort des Buddha; R. Hoernle: The Sutta nipàta in a Sanskfit Version from Eastern Turkestan (J.R.A.S. 1916); M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. II].