Khuê Phong Tông Mật

《圭峰宗密》 guī fēng zōng mì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Keihō Sumitsu, 780-841: người Quả Châu (), Tỉnh Tứ Xuyên (), ban đầu ông theo học Nho Giáo, sau chuyển sang Phật Giáo. Năm lên 15 tuổi, ông Xuất Gia, theo hầu hạ Đạo Viên (), chẳng bao lâu sau gặp được Viên Giác Kinh ()Pháp Giới Quán Môn () của Đỗ Thuận (), cho nên ông xác định được lập trường của mình. Năm lên 19 tuổi, ông thọ Cụ Túc Giới, sau đó vào năm 808 thể theo lời dạy của Đạo Viên, ông đến hầu hạ thầy của vị này là Kinh Nam Trương (, tức Nam Ấn), rồi tiếp theo học Thiền với Thần Chiếu (), học trò của Kinh Nam Trương, ở Báo Quốc Tự (), Lạc Dương (). Ngoài ra, vào năm 811 ông theo hầu hạ Thanh Lương Trừng Quán (), chuyên tâm nghiên cứu về Hoa Nghiêm. Thông qua trước tác và giảng dạy, thanh danh của ông càng lên cao. Từ năm 821 trở đi, ông đến sống tại Thảo Đường Tự () thuộc Chung Nam Sơn (), và chuyên tâm viết bộ Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao (), v.v. Vào năm 828, ông được vua Văn Tông () mời vào cung Thuyết Pháp, được ban cho Tử Y, và từ đó về sau ông quen thân với Bùi Hưu (, 791-864), rồi viết nên cuốn Bùi Hưu Thập Di Vấn () dưới hình thức trả lời các câu hỏi của nhân vật này. Ngoài ra còn có các trước tác khác như Khởi Tín Luận Chú Sớ (), Vu Lan Bồn Kinh Sớ (), Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao (), Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn (), Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (), Nguyên Nhân Luận (). Ông qua đời tại Thảo Đường Tự vào năm 841; Bùi Lâm soạn bản Khuê Phong Thiền Sư Bia Minh Tinh Tự ().