Khổ Hải
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: biển khổ, có mấy nghĩa khác nhau. (1) Phật Giáo chỉ cho Phiền Não và khổ nạn giữa cuộc đời. Như trong bài Tịnh Nghiệp Phú (凈業賦) của vua Võ Đế (武帝, tại vị 502-549) nhà Lương thời Nam Triều có đoạn: “Luân Hồi hỏa trạch, trầm nịch Khổ Hải, trường dạ chấp cố, chung bất năng cải (輪迴火宅、沉溺苦海、長夜執固、終不能改, Luân Hồi nhà lửa, chìm đắm biển khổ, đêm dài chấp chặt, rốt cuộc chẳng đổi).” (2) Tỷ dụ cho cảnh khổ vô cùng tận. Như trong bài thơ Túc Thạch Ung Tự (宿石瓮寺) của Lô Luân (盧綸, 739-799) nhà Đường có câu: “Hồi chiêm tướng hảo nhân thùy lệ, Khổ Hải ba đào hà nhật bình (迴瞻相好因垂淚、苦海波濤何日平, ngoảnh nhìn tướng tốt mà rơi lệ, biển khổ sóng cồn ngày nào yên ?).” Hay có bài tán đức Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Quan Âm Bồ Tát diệu nan thù, thanh tịnh Trang Nghiêm lũy kiếp tu, thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng, Khổ Hải thướng tác độ nhân chu (觀音菩薩妙難酬、清凈莊嚴累劫修、千處有求千處應、苦海常作度人舟, Quan Âm Bồ Tát thật nhiệm mầu, thanh tịnh Trang Nghiêm bao kiếp tu, ngàn cõi có cầu ngàn cõi ứng, biển khổ làm thuyền cứu người qua).” Trong bài cảnh tỉnh khuyên tu Niệm Phật tương truyền của Đại Sư Ấn Quang (印光, 1861-1940) cũng có câu: “Khổ Hải thao thao nghiệp tự chiêu, mê nhân bất thức bán phân hào, kim sanh bất bả Di Đà niệm, uổng tại Nhân Gian tẩu nhất tao (苦海滔滔業自招、迷人不識半分毫、今生不把彌陀念、枉在人間走一遭, biển khổ mênh mông nghiệp tự chiêu, người mê chẳng biết một chút nào, đời nay không trú Di Đà niệm, uổng tại Nhân Gian một kiếp mau).”