Huyền Môn Vô Ngại Thập Nhân
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Mười đức của Pháp Tính làm Nhân Sinh khởi đại nghiệp dụng, khiến cho các pháp của Huyền Môn viên dung vô ngại, trùng trùng vô tận. Mười nhân ấy là:
1. Duy Tâm sở hiện: Tất cả các pháp đều do Chân Tâm hiển ra, cho nên các pháp là tâm, tâm đã viên dung thì pháp cũng vô ngại.
2. Pháp vô Định Tính: Các pháp đều do tâm hiển hiện, từ Nhân Duyên mà sinh nên không có tính chất nhất định, vì không có tính chất nhất định cho nên có cái lí cái này, cái kia dung hòa; như một mảy bụi chứa được cả Hư Không.
3. Duyên Khởi tương do: Pháp Duyên Khởi không thể biệt lập, mà phải nương dựa lẫn nhau mới thành thể.
4. Pháp Tính Dung Thông: Tính của Pháp Giới Viên Dung vô ngại, tính đã Dung Thông thì sự cũng Dung Thông, như mỗi mảy bụi đều hàm chứa cả Pháp Giới.
5. Như Huyễn mộng: Các pháp hư giả không thật, giống như chiêm bao, trò dối, cho nên có thể dung hòa với nhau.
6. Như Ảnh Tượng: Các pháp Từ Tâm hiện ra, có thể hàm chứa tính trong sáng, giống như chiếc gương có khả năng ánh hiện hình bóng của các pháp.
7. Nhân vô hạn: Khi xưa Bồ Tát tu vô lượng nhân Thù Thắng, nên nay được vô lượng quả, cũng Diệu Dụng vô biên.
8. Phật chứng cùng: Phật chứng được tận cùng Chân Tính, đầy đủ tự giác, giác tha và giác hạnh, 6 Thần Thông Tự tại.
9. Thâm định dụng: Dùng sức thiền định mầu nhiệm sâu xa khiến cho tất cả các pháp đều hiện rõ ràng, viên dung vô ngại.
10. Thần Thông giải thoát: Đức Phật dùng sức Thần Thông giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho tất cả pháp kiến lập trong một pháp, hiển hiện viên dung vô ngại. Trong 10 nhân nói trên, thì 6 nhân trước là bàn về mặt tự tính của các pháp, 4 nhân còn lại là bàn về sự vô ngại của nghiệp dụng. Tông Hoa nghiêm lập ra 10 Huyền Môn để nói rõ cái tướng của Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới , còn Huyền Môn Vô Ngại Thập Nhân thì được dùng để giải thích lí do của sự Sự Sự Vô Ngại . (xt. Thập Huyền Môn).
1. Duy Tâm sở hiện: Tất cả các pháp đều do Chân Tâm hiển ra, cho nên các pháp là tâm, tâm đã viên dung thì pháp cũng vô ngại.
2. Pháp vô Định Tính: Các pháp đều do tâm hiển hiện, từ Nhân Duyên mà sinh nên không có tính chất nhất định, vì không có tính chất nhất định cho nên có cái lí cái này, cái kia dung hòa; như một mảy bụi chứa được cả Hư Không.
3. Duyên Khởi tương do: Pháp Duyên Khởi không thể biệt lập, mà phải nương dựa lẫn nhau mới thành thể.
4. Pháp Tính Dung Thông: Tính của Pháp Giới Viên Dung vô ngại, tính đã Dung Thông thì sự cũng Dung Thông, như mỗi mảy bụi đều hàm chứa cả Pháp Giới.
5. Như Huyễn mộng: Các pháp hư giả không thật, giống như chiêm bao, trò dối, cho nên có thể dung hòa với nhau.
6. Như Ảnh Tượng: Các pháp Từ Tâm hiện ra, có thể hàm chứa tính trong sáng, giống như chiếc gương có khả năng ánh hiện hình bóng của các pháp.
7. Nhân vô hạn: Khi xưa Bồ Tát tu vô lượng nhân Thù Thắng, nên nay được vô lượng quả, cũng Diệu Dụng vô biên.
8. Phật chứng cùng: Phật chứng được tận cùng Chân Tính, đầy đủ tự giác, giác tha và giác hạnh, 6 Thần Thông Tự tại.
9. Thâm định dụng: Dùng sức thiền định mầu nhiệm sâu xa khiến cho tất cả các pháp đều hiện rõ ràng, viên dung vô ngại.
10. Thần Thông giải thoát: Đức Phật dùng sức Thần Thông giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, khiến cho tất cả pháp kiến lập trong một pháp, hiển hiện viên dung vô ngại. Trong 10 nhân nói trên, thì 6 nhân trước là bàn về mặt tự tính của các pháp, 4 nhân còn lại là bàn về sự vô ngại của nghiệp dụng. Tông Hoa nghiêm lập ra 10 Huyền Môn để nói rõ cái tướng của Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới , còn Huyền Môn Vô Ngại Thập Nhân thì được dùng để giải thích lí do của sự Sự Sự Vô Ngại . (xt. Thập Huyền Môn).