Huyền Đàn
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho tôn xưng Chánh Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái (正一玄壇元帥, hay Kim Long Như Ý Chánh Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chơn Quân [金龍如意正一龍虎玄壇眞君]) của Thần Tài Triệu Công Minh (趙公明). Tượng của ông được vẽ đứng đạp trên con hổ đen, nên có tên là Hắc Hổ Huyền Đàn (黑虎玄壇). (2) Chỉ cho các Đạo Quán hay Đàn Tràng của Đạo Giáo. Như trong bài thơ Nhạc Từ Trai Cung Dạ Túc (岳祠齋宮夜宿) của Nguyên Hảo Vấn (元好問, 1190-1257) nhà Kim có câu: “Huyền Đàn triển suy bộ, tợ dục trục u bình (玄壇展衰步、似欲逐幽屛, Đàn Tràng từng bước xuống, như muốn đuổi ma binh).” Hay trong bài Kỳ Đảo (祈禱) của tác phẩm Hương Nang Ký (香囊記) do Thiệu Xán (邵璨, ?-?) nhà Minh sáng tác, có đoạn: “Vi nhân cốt nhục bệnh thương tâm, đặc quá Huyền Đàn khải pháp âm (爲因骨肉病傷心、特過玄壇啟法音, nhân vì cốt nhục bệnh thương tâm, mấy bận Đàn Tràng diễn pháp âm).” Trong Long Hưng Biên Niên Thông Luận (隆興編年通論, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 75, No. 1512) quyển 25 cũng có đoạn: “Ư tam điện tu Kim Lục Đạo Tràng, đông thập nguyệt đế hạnh tam điện, thăng Cửu Tiên Huyền Đàn, thân thọ pháp lục (於三殿修金籙道場、冬十月帝幸三殿、昇九仙玄壇、親受法籙, nơi ba ngôi điện tu thiết Đạo Tràng Kim Lục, đến mùa Đông tháng 10, nhà vua [Võ Tông] thân hành đến ba ngôi điện ấy, lên Đàn Tràng Cửu Tiên, chính thức thọ nhận phù chú [trừ Tà Ma]).”