Hữu Lậu
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: sāsava, Pāli: sāsrava: đối nghĩa với Vô Lậu (Sanskrit: anāsrava 無漏). Lậu (Sanskrit: āsrava, 漏) nghĩa là chảy mất, rỉ rỏ ra, là tên gọi khác của Phiền Não (Sanskrit: kleśa, Pāli: kilesa 煩惱). Con người do vì sai lầm, Khổ Quả vốn sanh ra từ Phiền Não, khiến cho họ cử trôi lăn mãi trong Thế Giới mê lầm, không bao giờ dừng nghỉ, khó có thể thoát ra biển Sanh Tử; nên goi là Hữu Lậu. Nếu đạt đến cảnh giới đoạn diệt Phiền Não, được gọi là Vô Lậu. Trong Tứ Thánh Đế (Sanskrit: catur-ārya-satya, Pāli: catu-arya-sacca 四聖諦), Khổ Đế và Tập Đế thuộc về nhân và quả của mê lầm, là pháp Hữu Lậu; Diệt Đế và Đạo Đế là nhân và quả của giác ngộ, thuộc về pháp Vô Lậu. Các pháp Hữu Lậu cũng như Vô Lậu vốn ở trong nhân, quả tu hành, có vị trí vô cùng quan trọng. Có nhiều tên gọi khác về Hữu Lậu, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 1 có nêu lên một số như Thủ Uẩn (取蘊), Hữu Tránh (有諍), Khổ (苦), Tập (集), Thế Gian (世間), Kiến Xứ (見處), Tam Hữu (三有), v.v. Ngoài ra, còn có các danh xưng khác như Hữu Nhiễm (有染), Hữu Nhiễm Ô (有染污), Hữu Phú (有覆), Trần Cấu (塵垢), v.v. Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (另據大乘阿毘達磨雜集論, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 3 nêu ra 6 loại Hữu Lậu, gồm: Lậu Tự Tánh (漏自性), Lậu Tướng Thuộc (漏相屬), Lậu Sở Phược (漏所縛), Lậu Sở Tùy (漏所隨), Lậu Tùy Thuận (漏隨順), Lậu Chủng Loại (漏種類). Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh (增壹阿含經, Taishō Vol. 2, No. 125) có đoạn: “Tư duy Thất Giác Ý thời, Hữu Lậu tâm tận, tiện đắc giải thoát, hậu thành vô thượng chánh chân chi đạo (思惟七覺意時、有漏心盡、便得解脫、後成無上正眞之道, khi tư duy về Thất Giác Chi, tâm Hữu Lậu diệt tận, bèn được giải thoát, sau chứng được đạo vô thượng chánh chân).” Hay trong Du Già Sư Địa Luận Thích (瑜伽師地論釋, Taishō Vol. 30, No. 1580) lại có đoạn: “Khởi chư Phiền Não, phát Hữu Lậu Nghiệp, Luân Hồi Ngũ Thú, thọ Tam Đại khổ (起諸煩惱、發有漏業、輪迴五趣、受三大苦, khởi các Phiền Não, sinh nghiệp Hữu Lậu, Luân Hồi Năm Đường, chịu ba khổ lớn).”