Học Sĩ

《學士》 xué shì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa. (1) Chỉ chung cho những người đọc sách bình thường. Như trong Bão Phác Tử (), Phần Sùng Giáo (), của Cát Hồng (, 284-363) nhà Tấn, có câu: “Tỉnh văn chương ký bất hiểu, đỗ Học Sĩ như thảo giới (, xét văn chương đã không hiểu, xem người đọc sách như cỏ rác).” (2) Giống như học giả. Như trong tác phẩm Thiếu Thất Sơn Phòng Bút Tùng (), phần Hoa Dương Bác Nghị Hạ (), của Hồ Ứng Lân (, 1551-1602) nhà Minh, có đoạn: “Giới Phủ, Nguyên Hối tự thị Học Sĩ, bất đắc dĩ sở trường một chi (, Giới Phủ [tức Vương An Thạch, 1021-1086], Nguyên Hối [tức Chu Hy, 1130-1200] tự là học giả, không được để cho sở trường mất đi).” (3) Tên một chức quan. Từ thời Nam Bắc Triều (, 420-589) trở về sau, Học Sĩ được xem như là chức quan chuyên trách về soạn thuật văn học. Dưới thời nhà Đường (, 618-907), chức này được gọi là Hàn Lâm Học Sĩ (), vì tiếp cận với Hoàng Đế, nên thỉnh thoảng có tham dự việc triều chính. Đến thời nhà Tống (, 960-1279), chức quan này được thiết định rõ ràng, chức quyền và địa vị cũng tương đồng với thời nhà Đường. Sang thời nhà Minh (, 1368-1662) thì cho thiết lập các chức như Hàn Lâm Viện Học Sĩ (), Hàn Lâm Viện Thị Độc (), Thị Giảng Học Sĩ (). Đến thời nhà Thanh (, 1616-1911) thì đổi Hàn Lâm Viện Học Sĩ thành Chưởng Viện Học Sĩ (). Trong Lịch Đại Tam Bảo(, Taishō Vol. 49, No. 2034) quyển 1 có đoạn: “Khai Hoàng thập thất niên Phiên Kinh Học Sĩ thần Phí Trường Phòng (, năm Khai Hoàng 17 [597], thần Phí Trường Phòng, Học Sĩ Phiên Dịch Kinh Điển).” (4) Tên một loại học vị.