Học Giai
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Những cấp bậc được Ấn Định theo kiến thức về Phật Học của giới tăng sĩ tại Nhật bản. Vào Thời Đại Bình An của Nhật bản, người tốt nghiệp 3 Pháp Hội giảng kinh (hội Duy Ma, hội Ngự trai, hội Tối thắng) được tổ chức tại Nại lương (Nara) gọi là Đắc nghiệp. Người vâng mệnh vua đảm nhiệm chức Giảng sư trong 3 hội mà vẫn chưa được giảng kinh, gọi là Nghĩ giảng, đã giảng kinh, gọi là Dĩ giảng. Vào thời gần đây, chế độ Học Giai của các Tông Phái phần nhiều cũng còn dùng các tên gọi xưa, như tông Tịnh Độ có các danh từ Khuyến Học, Dĩ giảng, Giảng sư, Nghĩ giảng, Đắc nghiệp; phái chùa Bản Nguyện thuộc Chân Tông thì dùng các từ Khuyến Học, Tư giáo, Phụ giáo, Trợ giáo, Đắc nghiệp; phái Đại cốc thì có các chức Giảng sư, Tự giảng, Nghĩ giảng, Học sư (vốn là Liêu ti); tông Thiên thai thì dùng các từ Thám Đề, Dĩ giảng, Nghĩ giảng, Vọng nghĩ giảng, v.v... Vị tăng có Học Giai cao nhất mới được thống lãnh các Học Sinh, đồng thời có trách nhiệm Quyết Định con đường tiến thân của họ, vì thế cũng có khi gọi vị này là Học chức. Phái chùa Bản Nguyện từ xưa đến nay vốn chỉ đặt ra một chức Năng Hóa do một người đảm nhiệm, nhưng khi người này ba nghiệp không thanh tịnh (tức không còn đủ tư cách) thì thay người khác. Còn chức Giảng sư hoặc Tự giảng của phái Đại cốc lúc đầu chỉ do một người giữ, nhưng về sau thì có thể do nhiều người đảm nhiệm. [X. Thích Gia quan ban kí Q.hạ; Chư Tông giai cấp Q.thượng].