Hòa La Phạn

《和羅飯》 hé luó fàn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: từ gọi tắt của Bát Hòa La Phạn (). Bát Hòa La () là âm dịch của từ Phạn ngữ pravāraṇā (s.) và pavāraṇā (p.); còn có một số âm dịch khác như Bát Lợi Bà Thích Noa (), Bát Hòa Lan (); ý dịch là đầy đủ, vui vẻ, việc tùy ý, tùy theo ý của người khác mà tự thân mình nêu ra những sai phạm, Tự Tứ (). Theo Sa Môn Huyền Ứng (, ?-?), nhân vật sống dưới thời nhà Đường, Đệ Tử của Huyền Trang (, 602-664), tu sĩ của Đại Tổng Trì Tự () ở Trường An (), người biên soạn bộ Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa (, 25 quyển), giải thích rằng sau An Cư là ngày Tự Tứ, tức nhằm vào Rằm tháng 7 (tại Việt Nam thường tổ chức vào ngày 16). Ngày này, món ăn cúng dường Tam Bảo được gọi là Hòa La Phạn, tức là món ăn Tự Tứ. Trong Vu Lan Bồn Kinh Tân Sớ (, Tục Tạng Kinh Vol. 21, No. 377) giải thích rõ rằng: “Thọ Bát Hòa La Phạn giả, lân mẫn Thí Chủ, vô trước vô tham, mỹ thực ố thực, bất sanh tăng giảm, cố danh Nhất Tâm (, người thọ nhận cơm Tự Tứ, phải biết thương xót Thí Chủ, không chấp trước không tham lam, thức ăn ngon hay thức ăn dở, Không Sinh cũng không giảm, nên gọi là Nhất Tâm).” Trong Tông Môn Niêm Cổ Vị Tập (, Tục Tạng Kinh Vol. 66, No. 1296 q.37) quyển 37 có câu: “Trai thời nhất Bát Hòa La Phạn, Thiền đạo thị phi tổng bất tri (, khi ăn một bát cơm Tự Tứ, Thiền đạo đúng sai thảy không hay).” Hay trong bài Nữ Tử Xuất Định () của Vô Dị Nguyên Lai Thiền Sư Quảng Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 72, No. 1435) quyển 11 có đoạn: “Xuất định mạn vân Đàn Chỉ gian, không lao Thần Lực bất tương quan, nhi kim quán khiết Hòa La Phạn, nhất nhật tam xan bão tiện nhàn (便, xuất định dối cho [trong khoảng] khảy móng tay, nhọc gì Thần Lực liên quan đây, như nay quen ăn cơm Tự Tứ, ba bữa một ngày no ngũ say).”