Hành Uẩn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Saôskàra-skandha. Pàli: Saíkhàra-khandha. Hành nghĩa là đổi dời, biến hóa, tạo tác. Uẩn nghĩa là chứa nhóm, chia loại. Phật giáo chia tất cả pháp Hữu Vi làm 5 loại, gọi là Ngũ Uẩn , trong đó, Hành Uẩn là loại thứ 4, gồm các pháp có tính chất tạo tác, đổi dời. Tông Câu xá chia hết thảy pháp Hữu Vi, Vô Vi thành 75 pháp, trong đó, có 44 món Tâm Sở và 14 pháp bất tương ứng, cộng lại gồm 58 pháp, gọi chung là Hành Uẩn. Có thuyết chủ trương, nếu tất cả các pháp Hữu Vi đều là những pháp tạo tác, đổi dời, thì chẳng riêng gì Hành Uẩn, mà ngay cả sắc, thụ, tưởng, thức cũng đều có thể gọi là Hành Uẩn. Nhưng tông Câu xá cực lực phản đối thuyết này, như Câu Xá Luận Kí quyển 1 của ngài Phổ Quang cho rằng 4 uẩn: Sắc, thụ, tưởng, thức tuy cũng thuộc các pháp tạo tác, đổi dời, nhưng so với Hành Uẩn thì tính chất tạo tác, đổi dời ấy ít hơn, cho nên phải gọi bằng những tên khác nhau. Ngoài những điểm nói trên, còn có nhiều giải thích khác nữa về Hành Uẩn. Như Kinh bộ và Phật giáo Đại Thừa thì chủ trương 6 Tư thân là Hành Uẩn. Sáu Tư thân tức là Tâm Sở Tư do tương ứng với 6 thức mà sinh ra, phạm vi của thuyết này rất rộng. [X. luận Đại Thừa A Tì Đạt Ma tập Q. 1.; luận Đại tì Bà Sa Q. 74.; Q. 75.; luận Câu xá Q. 1.; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 5. phần đầu]. (xt. Ngũ Uẩn).