Duy Tịnh

《惟淨》 wéi jìng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Vị Tam Tạng Dịch Kinh ở đời Bắc Tống. Người Kim lăng (phía nam huyện Giang ninh tỉnh Giang tô), họ Lí, cháu của Nam Đường Hậu Chủ (Lí hậu chủ) Lí dục, năm sinh năm mất không được rõ. Sư Xuất Gia năm bảy tuổi, 11 tuổi tụng kinh Pháp hoa. Vì sự nghiệp tiếp tục Phiên Dịch Kinh Điển, năm Thái bình hưng quốc thứ 8 (983), sư là một trong 50 Đồng Tử được triều đình tuyển chọn để học tiếng Phạm và nghiên cứu nghĩa lí trong Kinh Điển bằng tiếng Phạm. Khi đủ tuổi (20) sư được Thụ Giới Cụ Túc, thông suốt Du Già mật giáo, mẫu tự chữ Phạm, âm Nghĩa Thiên trúc, Chân Ngôn Bí Ấn, nghiên cứu sâu các kinh Duy Ma, Bát Nhã tâm và luận Nhân Minh đến chỗ tinh yếu. Sau, sư giữ chức Bút Thụ Phạm học và được vua ban áo đỏ với Danh Hiệu Quang Phạm Đại Sư. Năm Đại trung tường phù thứ 2 (1009), sư lại được ban chức Triều tán đại phu thí quang lộc khanh chuyên việc Dịch Kinh. Rồi từ năm Đại trung tường phù thứ 3 (1010), đến năm Thiên hi thứ 2 (1018), sư cùng với các ngài Thí Hộ, Pháp Hộ dịch chung được 19 bộ kinh gồm 76 quyển. Từ năm Thiên hi thức 3 đến năm Cảnh hựu thứ 4 (1037), sư và ngài Pháp Hộ dịch chung được 8 bộ 96 quyển. Năm Thiên thánh thứ 3 (1025) sư cùng với nhóm các vị Hạ tủng soạn Tân Dịch Kinh Âm Nghĩa 70 quyển. Năm Thiên thánh thứ 5 (1027) sư cùng với nhóm các vị Huệ Phương biên soạn Thiên Thánh Thích Giáo Tổng Lục 3 quyển. Rồi vào năm Cảnh hựu thứ 2 (1035) sư cùng với ngài Pháp Hộ soạn chung Cảnh hựu Thiên Trúc Tự Nguyên 7 quyển v.v... Căn cứ vào điều Hi ninh ngũ niên thập nguyệt trong Tham Thiên Thai Sơn kí của sư Thành Tầm người Nhật mà suy thì có thể biết sư Duy Tịnh tịch trước năm Hi ninh thứ 5, được truy tặng Thụy HiệuMinh Giáo Tam Tạng. [X. Phật Tổ Thống Kỉ Q. 43., Q. 44., Q. 45.; Tống Hội Yếu cảo Q. 200.; Thích Môn Chính Thống Q. 4.; Bổ Tục Cao Tăng Truyện Q. 1.; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q. 1.].