Dung Hi

《融熙》 róng xī

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(1888 - 1959) Người huyện Phiên ngung tỉnh Quảng đông (gốc quê Chiết giang), họ Thang, tự Tuyết quân, hiệu Cửu chỉ Đầu Đà. Sư tốt nghiệp trường Cao đẳng sư phạm Quảng đông, nổi tiếng về văn chương và biện luận. Trước khi Xuất Gia, sư từng giữ các chức vụ như: Hiệu trưởng trường Tiểu học Phiên ngung, Giám đốc sở Giáo dục, Ủy viên hội quĩ tiền tệ Trung ương, Cố vấn ủy viên hội Chính vụ chính phủ Tây nam, Quyền Bí thư xử lí thường vụ ngân hàng tỉnh Quảng đông v.v... Sư còn tổ chức Hội xem kinh Phật giáo Quảng châu, Hội nghiên cứu Phật Học Lục nhất, sáng lập Nguỵệt san Viên âm, đồng thời, sư ra sức tìm hiểu ý nghĩa và luyện tập Thiền, hết lòng Hộ Pháp và bảo vệ tài sản của các chùa viện. Năm Dân quốc 13 (1924), sư lâm bệnh nặng. Năm Dân quốc 36, sư qui y làm Đệ Tử Hòa Thượng Hư Vân ở chùa Nam hoa, Việt châu, được đặt Pháp Hiệu Khoan quân. Về sau, sư đến Thuyên loan Trúc lâm Thiền Viện xin y vào pháp sư Dung thu Xuất Gia, Pháp Hiệu Dung Hi. Năm sau, sư y vào pháp sư Kinh khê ở chùa Linh ẩn, núi Đại Tự Thụ Giới Cụ Túc. Sau vì Hòa Thượng Hư Vân viết thư dạy sư là Đạo Phật dời về Nam nên năm Dân quốc 43 (1954) sư từ Hương cảng đến Tân gia ba. Sư thường qua lại Tân gia ba và Cát long pha (Kuala Lumpur) để hoằng pháp và sáng lập Hội nghiên cứu Phật Học Mã lai á. Năm Dân quốc 48 (1959), sư tịch ở Cát long pha, thọ 72 tuổi. Sư có các trứ tác: Phật giáo và Thiền Tông, Cát Đằng tập, Vô Tướng tụng giảng thoại, Bách Dụ Kinh tuyển giảng v.v...