Đức Xuyên Tề Chiêu

《德川齊昭》 dé chuān qí zhāo

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Tokugawa Nariaki, 1800-1860: nhà Đại Danh sống vào khoảng cuối thời Giang Hộ, Phiên chủ đời thứ 9 của Phiên Thủy Hộ (, Mito-han), thân phụ của Đức Xuyên Khánh Hỷ (, Tokugawa Yoshinobu), Tướng Quân đời thứ 15 (cuối cùng) của chính quyền Mạc Phủ Giang Hộ. Thân sinh ông là Đức Xuyên Trị Kỷ (, Tokugawa Harutoshi), thân mẫu là Anh Tưởng Viện (); tên lúc nhỏ là Hổ Tam Lang (), Kính Tam Lang (); Thụy Hiệu là Liệt Công (); tự Tử Tín (); hiệu là Cảnh Sơn (), Tiềm Long Các (); thần hiệu là Áp Kiến Nam Quốc Chi Ngự Thuẫn Mạng (), Nại Lí An Kỷ Lương Chi Mạng (). Năm 1829 (Văn Chính [] 12), ông làm Phiên chủ, trọng dụng nhóm Đằng Điền Đông Hồ (, Fujita Tōko) và tiến hành cải cách chính trị của Phiên. Nhờ có khuyến khích nhân dân dự trữ thóc lúa, nên dân chính an định; rồi ông cho thiết lập Hoằng Đạo Quán (), xúc tiến cải cách quân sự theo kiểu phương Tây và tăng cường phòng thủ bờ biển. Tuy nhiên, do vì cưỡng chế nộp Hồng Chung để đúc đại pháo, cọng thêm chính sách bài Phật quá khích cực đoan của ông dựa trên tư tưởng gọi là Thần Nho Nhất Trí (), vào năm 1844 (Hoằng Hóa [] nguyên niên), ông bị chính quyền Mạc Phủ hạ mệnh bắt phải lui về ẩn cư. Chính trong khoảng thời gian này, thỉnh thoảng ông cũng có dâng thư đề đạt ý kiến trình lên chính quyền như Mậu Tuất Phong Sự (, 1838), nói về tính tất yếu cần phải cải cách nền chính trị của chính quyền Mạc Phủ; hay như trạng thư nói về việc tăng cường đề phòng hải vức cũng như vấn đề thuyền của ngoại quốc xem thường luật lịnh của chính quyền, v.v. Sau khi thuyền của Peri đến Nhật, vào tháng 7 năm 1853 (Gia Vĩnh [] 6), ông được tham dự bàn việc quân chính với quan Lão Trung A Bộ Chánh Hoằng (); nhưng đến tháng 7 năm 1857 (An Chính [] 4), ông từ chức. Đến cuối đời, ông bị xử lý buộc phải Cấm Túc, không được ra ngoài và qua đời tại Thủy Hộ. Ông từng làm các chức quan như Tùng Tam Vị (), Tả Cận Vệ Quyền Trung Tướng () kiêm Tả Vệ Môn Thúc Tham Nghị (), Quyền Trung Nạp Ngôn (); và sau được truy tặng chức Tùng Nhị Vị (), Quyền Đại Nạp Ngôn (), Tùng Nhất Vị (), Chánh Nhất Vị ().