Đông Hải

《東海》 dōng hǎi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa. (1) Tên biển, tùy theo thời đại mà tên gọi khác nhau. Đại để, dưới thời Tiền Tần (từ năm 221 ttl. trở về trước), phần lớn chỉ Hoàng Hải () hiện tại. Từ thời Tần (, 221-207 ttl.), Hán (, 202 ttl-220) trở về sau, phần lớn chỉ cho Hoàng Hải, Đông Hải hiện tại. Từ thời nhà Minh (, 1368-1644) trở về sau, chỉ tương đương với Đông Hải hiện tại. Hải vực của Đông Hải ngày nay, từ phía Bắc đi về bờ Bắc cửa khẩu Trường Giang (), phía Nam lấy Đảo Nam Áo () của Tỉnh Quảng Đông () đến Tỉnh Đài Loan () làm ranh giới, phía Đông đến quần đảo Lưu Cầu () của Nhật Bản. (2) Chỉ chung cho biển lớn ở phương Đông. Như trong bài Thất Phát () của Mai Thừa (, ?-140) nhà Hán có đoạn: “Bỉnh ý hồ Nam Sơn, thông vọng hồ Đông Hải, hồng động hề thương thiên, cực lự hồ nhai sĩ (, vững ý ôi núi Nam, nhìn thoáng ôi biển Đông, cầu vồng chừ trời xanh, tận ý ôi bờ vực).” Hay trong tác phẩm Tây Thục Mộng (西) của Quan Hán Khanh (, khoảng 1220-1300) nhà Nguyên có câu: “Lai thời tiết ngọc thiềm xuất Đông Hải, khứ thời tiết tàn Nguyệt Hạ Tây lâu (西, thời tiết đến cóc ngọc hiện Đông biển, thời tiết đi trăng tàn xuống Tây lầu).” (3) Chỉ địa khu Tân Hải () của Trung Quốc. (4) Tên gọi chung của 4 Huyện lớn của Nhật là Aichi-ken (, Huyện Ái Tri), Gifu-ken (, Huyện Kì Phụ), Mie-ken (, Huyện Tam Trọng) và Shizuoka-ken (, Huyện Tĩnh Cương).