Đông An Cư

《冬安居》 dōng ān jū

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Đông hội. An Cư vào mùa đông. Đông An Cư là thời gian từ rằm tháng 10 đến rằm tháng Giêng năm sau, Tăng Chúng phải ở một chỗ, không được ra ngoài để chuyên tâm học tập tu dưỡng. Ở Ấn Độ, từ thời Phật giáo Nguyên thủy đến nay, việc kết Hạ An Cư trong mùa mưa rất phổ biến. Nhưng ở miền Tây bắc Ấn Độ và vùng Trung á, khí hậu tương đối lạnh, mùa đông nhiều tuyết, có lúc mưa dầm, việc đi lại rất khó khăn, cho nên phỏng theo phép Hạ An Cư mà tổ chức Đông An Cư. Luật Tiểu Thừa của các bộ phái không thấy ghi chép việc này, nhưng trong các Kinh Điển thì kinh Phạm võng (quyển hạ), vốn là luật của Đại Thừa, là bộ kinh sớm nhất có nói về Đông An Cư. Các Tùng Lâm và các chùa ở Trung Quốc cũng có thực hành Đông An Cư, nhưng phần nhiều chỉ ở miền Bắc, chứ ở miền Nam thì vẫn thịnh hạnh Hạ An Cư. Ở Nhật bản vốn không có việc kết chế Đông An Cư, nhưng bắt đầu từ ngài Đạo Nguyên trở về sau mới thực Hành Pháp Đông An Cư. Hiện nay, pháp Đông An Cư của tông Tào động Nhật bản được chia làm ba loại: Đông tiền An Cư (từ rằm tháng 10 đến rằm tháng giêng), Đông trung An Cư (từ rằm tháng 11 đến rằm tháng 2), Đông hậu An Cư (từ rằm tháng 12 đến rằm tháng 3). Ngoài ra, Hạ An Cư cũng gọi là Vũ An CưĐông An Cư cũng gọi là Tuyết An Cư. [X. Đại Đường Tây Vực Kí Q. 1.; Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.thượng; môn Thời tiết trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên Q. 4.].