Điều Ngự Trượng Phu

《調御丈夫》 diào yù zhàng fū

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: puruṣa damyasārathi, Pāli: purisadammasārathi: âm dịch là Phú Lâu Sa Đàm Miệu Ta La Đề () một trong 10 Danh Hiệu của Phật, nghĩa là một bậc thầy khéo Điều Phục và chế ngự, Hóa Đạo hết thảy các trượng phu. Đây là Đại Bi và đại trí của Phật, có khi dùng lời nhu hòa, có khi dùng lời bi thiết hay tạp ngữ, v.v., lấy đủ các loại Phương Tiện để điều ngự người tu hành, giúp cho họ nhập Niết Bàn. Mười Danh Hiệu này phát xuất từ trong Phật Thuyết Thập Hiệu Kinh (, Taishō No. 782), phần giải thích về Điều Ngự Trượng Phu như sau: “Vân hà Điều Ngự Trượng Phu ? Phật ngôn: 'Phật thị Đại Trượng Phu, nhi năng điều ngự Thiện Ác nhị loại; ác giả khởi Bất Thiện Tam Nghiệp, nhi tác chư ác đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh nhi đắc ác báo; thiện giả ư thân khẩu ý nhi tu chúng thiện, đắc Nhân Thiên phước quả; thử chi Thiện Ác giai do tâm tác, Phật dĩ đệ nhất nghĩa thiện Niết Bàn chi pháp, hiển thị diều ngự linh ly Cấu Nhiễm hoạch đắc tối thượng Tịch Diệt Niết Bàn, thị cố đắc danh Điều Ngự Trượng Phu' (調調 調 調, Thế nào là Điều Ngự Trượng Phu ? Phật dạy: 'Phật là Đại Trượng Phu, có thể điều ngự hai loại thiện và ác; người ác khởi Ba Nghiệp không lành, mà tạo các điều ác, đọa vào Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Bàng Sanh và bị Quả Báo ác; người thiện tu các điều lành đối với thân, miệng, ý, được quả phước của trời người; thiện và ác này đều do tâm tạo ra; Phật lấy pháp lành Niết Bàn nghĩa thứ nhất để hiển bày, điều ngự, khiến cho xa lìa Cấu Nhiễm, đạt được Niết Bàn vắng lặng tối thượng; cho nên có tên gọi là Điều Ngự Trượng Phu).” Câu “Điều Ngự Trượng Phu, nãi huấn Tứ Sanh chi tử (調)” có nghĩa là đấng Đại Trượng Phu điều ngự, dạy dỗ đàn con của Bốn Loài.