Đề Hồ Tự

《醍醐寺》 tí hú sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Daigo-ji: ngôi chùa trung tâm của Phái Đề Hồ () thuộc Chơn Ngôn Tông, hiệu núi là Thâm Tuyết Sơn (), hiện tọa lạc tại Daigo (), Fushimi-ku (), Kyoto-shi (). Theo truyền ký của chùa cho biết, Thánh Bảo () là người khai sáng chùa vào năm 874 (niên hiệu Trinh Quán [] thứ 16). Ban đầu ông trú tại Tây Nam Viện của Đông Đại Tự (, Tōdai-ji), vùng đất chùa này là khoảng giữa của Thạch Sơn Tự ()Đông Đại Tự. Ông điêu khắc hai bức tượng Chuẩn Đề và Quan Âm, rồi an trí trên núi. Người con gái của nhà hào tộc vùng Sơn Khoa (, Yamashina) là Dận Tử () theo làm cung phi của Vũ Đa Thiên Hoàng (, Uda Tennō, tại vị 887-897) và hạ sanh Đề Hồ Thiên Hoàng (, Daigo Tennō, tại vị 897-930). Hay đời sau Châu Tước Thiên Hoàng (, Suzaku Tennō, tại vị 930-946) hạ sanh cũng nhờ cầu nguyện đức Chuẩn Đề. Với mối quan hệ dó, chùa được tầng lớp Hoàng Thất quy y theo. Vì thế, năm 904 (niên hiệu Diên Hỷ [] thứ 4), Thích Ca Đường; rồi đến năm 907 thì Dược Sư Đường, Ngũ Đại Dường lần lượt được kiến lập, và đến năm 913 thì nơi đây trở thành chùa được cấp định ngạch của Hoàng triều. Vào năm 949 (niên hiệu Thiên Lịch [] thứ 3), Pháp Hoa Tam Muội Đường được kiến lập dưới chân núi; đến năm 952, ngôi tháp 5 tầng hiện tồn được tạo dựng và coi như ngôi Già Lam được hoàn bị. Đối với các công trình kiến trúc này, hệ thống của Đề Hồ Thiên Hoàng đã có Nỗ Lực rất lớn; nhưng đến khi dòng họ Đằng Nguyên (, Fujiwara) nắm chính quyền thì sự Ngoại Hộ từ phía Hoàng Thất trở nên thưa thớt dần, song đến thời Viện Chính thì chùa lại được phục hưng nhờ vị Tọa Chủ xuất thân dòng họ Nguyên (, Minamoto). Tức là các vị Tọa Chủ đời thứ 13 là Giác Nguyên (, con thứ 4 của Hoa Sơn Thiên Hoàng [, Kazan Tennō, tại vị 984-986]), đời thứ 14 là Định Hiền (, con của Nguyên Long Quốc []), đời thứ 15 là Thắng Giác () cũng như đời thứ 18 là Thật Vận (, con của Nguyên Tuấn Phòng []), đời thứ 16 là Định Hải (, con của Nguyên Hiển Phòng Tử []), đời thứ 17 là Nguyên Hải (, con của Nguyên Nhã Tuấn []), v.v. Thêm vào đó, nhờ có các Danh Tăng xuất hiện nên mọi người đều Quy Ngưỡng về chùa này. Vốn là con cháu đích truyền của Dòng Tiểu Dã (), là trung tâm nghiên cứu dòng pháp, hiện tại Đề Hồ Tự vẫn bảo quản khá nhiều sách Khẩu Truyền, nghiên cứu, đặc biệt là các đồ hình, tượng, v.v. Vào năm 1115 (niên hiệu Vĩnh Cửu [] thứ 3), tiếp theo việc kiến lập Tam Bảo Viện của Thắng Giác, Kim Cang Vương Viện của Thánh Hiền (), Lý Tánh Viện của Hiền Giác (), Vô Lượng Thọ Viện của Nguyên Hải, Báo Ân Viện của Thành Hiền (), Địa Tạng Viện của Đạo Giáo () lần lượt xuất hiện, hình thành nên 6 dòng phái Đề Hồ. Về mặt chính trị, dưới Thời Đại Liêm Thương (, Kamakura) thì không có can hệ gì, chùa trở thành trung tâm nghiên cứu Sự Tướng, Đồ Tượng cho các Tông Phái. Về sau, chùa bị cháy hơn phân nữa trong vụ Loạn Ứng Nhân (). Đến thời Nghĩa Diễn () làm Tọa Chủ nơi đây, nhờ sự hỗ trợ của dòng họ Phong Thần (, Toyotomi), ông tiến hành phục hưng chùa. Đến Thời Đại Giang Hộ (, Edo), nhờ sự bảo hộ phái Tân Nghĩa Chơn Ngôn Tông (), nên chùa không bị dao động gì cả. Chùa hiện tồn rất nhiều quần thể kiến trúc cũng như bảo vật có giá trị cấp Quốc Bảo như Dược Sư Đường, Khai Sơn Đường, Như Ý Luân Đường, Kim Đường, 5 bức Ngũ Đại Tôn Tượng, Diêm Ma Thiên Tượng, Đại Nhật Kim Luân, A Di Đà Tam Tôn, v.v.