Đạp Sàng

《踏床》 tà chuáng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Đạp tử, Thừa túc sàng, Cước sàng, Cước đẳng, Đẳng tử. Cái bệ nhỏ đặt ở trước chỗ ngồi để kê chân. Đạp Sàng, trong kinh luật có nhiều tên gọi khác nhau. Như phẩm Tín Giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 gọi là Bảo kỉ (Phạm: Pàda-pìỉha, ghế báu). Luật Ma Ha Tăng Kì quyển 20 gọi là Thừa túc kỉ (ghế để chân). Nghĩa là khi vị tỉ khưu vào nhà Đàn Việt (Thí Chủ), gặp chỗ ngồi quá cao (chân giường cao quá) thì không được ngồi thõng chân và đung đưa. Nếu người Đàn Việt ấy là cựu thức (người quen biết đã lâu), thì có thể tìm một thừa túc kỉ; nếu không là cựu thức thì tìm viên gạch hay khúc gỗ để kê chân. Hữu Bộ tì nại da tạp sự quyển 14 ghi chép về nguồn gốc của Đạp Sàng, nói rằng đức Phật cho phép vị tỉ khưu khi tụng kinh được ngồi trên tòa Sư tử cao, nhưng vì ngồi thõng chân xuống thì dễ mỏi nênPhật cho phép làm cái ghế nhỏ để kê hai chân. Nếu ở trong rừng hoặc những nơi khó tìm được ghế thì đức Phật dạy có thể dùng hòn đá để thay thế. Đến đời sau, trong Thiền Lâm phần nhiều sử dụng Đạp Sàng. [X. luật Tứ phần Q. 51.; Hữu Bộ Ni Đà Na Q. 4.; Thiền Lâm Tượng Khí Tiên Khí vật môn; Tống sử Q. 150. Hậu phi xa dư].