Đạo Khâm
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(714 - 792) Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Côn sơn, Tô châu, họ Chu, cũng gọi Pháp khâm, là Sơ tổ của phái Kính Sơn tông Ngưu Đầu. Sư vốn học Nho Giáo, nhưng, một hôm, trên đường đi đến kinh đô, sư gặp Thiền Sư Hạc Lâm Huyền Tố, bèn xin Xuất Gia Thụ Giới, tu tập pháp Thiền. Sau, sư đến ở Kính Sơn tại Hàng châu, người về Tham Học rất đông và dần dần phát triển thành phái Kính Sơn. Năm Đại lịch thứ 3 (768), vua Đại tông thỉnh sư vào Kinh đô và ban cho Danh Hiệu Quốc nhất Thiền Sư. Đến năm Trinh nguyên thứ 5 (789), sư lại được vua Đức Tông ban cho con dấu và bảo vật. Sư cũng được rất nhiều danh sĩ trong triều ngoài nội qui y tín thuận, từ đó, người đời tôn xưng sư là Công Đức Sơn. Năm Trinh nguyên thứ 6 (790), sư dời đến ở viện Tịnh Độ chùa Long hưng. Năm Trinh nguyên thứ 8 (792), sư tịch, thọ 79 tuổi. Vua Đức Tông ban Thụy Hiệu là Đại Giác Thiền Sư. Người đời gọi sư là Kính Sơn Đạo Khâm. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 9.; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q. 4.; Thích Thị Kê Cổ Lược Q. 3.]. (xt. Đạo Khâm).