Đạo Hành
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Đạo Hạnh. Cũng gọi Đạo Nghiệp. Hàm ý là tu Hành Đạo Phật. Phẩm Chúc Lụy trong kinh Duy Ma quyển hạ (Đại 14, 557 thượng) nói: Đúng như lời dạy mà tu tập, nên biết người ấy tu đạo hạnh đã lâu.
II. Đạo Hạnh (752 - 820). Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Quế dương (Hồ nam) họ Dương. Năm 12 tuổi, sư tu học ở Đạo Tràng Bát Nhã tại Nam Nhạc. Sau, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất, triệt ngộ việc lớn Sinh Tử. Mới đầu sư ở phía tây nam huyện Lễ dương, sau quan Thái thú thỉnh sư về trụ trì chùa Khai nguyên ở Mính khê. Năm Nguyên hòa 15 (820) sư tịch, thọ 69 tuổi. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 20.].
III. Đạo Hạnh(1089-1151). Vị Thiền tăng thuộc phái Dương Kì Tông Lâm tế ở đời Tống, người Kiền châu (tỉnh Giang tây), họ Diệp, đời gọi sư là Tuyết đường. Thủa nhỏ sư đã quyết chí học Phật và theo Thiền Sư Vi ở Thiên ninh. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Giác ấn Tử anh Xuất Gia, Tham Học ngài Chỉ nguyên nhuận, nhưng Cơ Duyên không khế hợp. Sư lại tham lễ ngài Phật Nhãn Thanh Viễn ở chùa Long Môn, tỏ ngộ được Huyền Chỉ và nối pháp của ngài. Năm Kiến viên thứ 2 (1128), nhận lời thỉnh cầu của Từ khang quốc, sư giảng pháp ở Thọ ninh, sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Pháp Hải, Thiên ninh, Ô cự v.v... Năm Thiệu hưng 21 (1151) sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có các trứ tác: Tuyết đường Hạnh Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển, Tuyết đường Hạnh Hòa Thượng thập di lục 1 quyển. [X. Liên Đăng Hội Yếu Q. 17.; Đại Minh Cao Tăng Truyện Q. 6.].
II. Đạo Hạnh (752 - 820). Vị Thiền tăng ở đời Đường, người Quế dương (Hồ nam) họ Dương. Năm 12 tuổi, sư tu học ở Đạo Tràng Bát Nhã tại Nam Nhạc. Sau, sư tham yết ngài Mã tổ Đạo nhất, triệt ngộ việc lớn Sinh Tử. Mới đầu sư ở phía tây nam huyện Lễ dương, sau quan Thái thú thỉnh sư về trụ trì chùa Khai nguyên ở Mính khê. Năm Nguyên hòa 15 (820) sư tịch, thọ 69 tuổi. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 20.].
III. Đạo Hạnh(1089-1151). Vị Thiền tăng thuộc phái Dương Kì Tông Lâm tế ở đời Tống, người Kiền châu (tỉnh Giang tây), họ Diệp, đời gọi sư là Tuyết đường. Thủa nhỏ sư đã quyết chí học Phật và theo Thiền Sư Vi ở Thiên ninh. Năm 19 tuổi, sư y vào ngài Giác ấn Tử anh Xuất Gia, Tham Học ngài Chỉ nguyên nhuận, nhưng Cơ Duyên không khế hợp. Sư lại tham lễ ngài Phật Nhãn Thanh Viễn ở chùa Long Môn, tỏ ngộ được Huyền Chỉ và nối pháp của ngài. Năm Kiến viên thứ 2 (1128), nhận lời thỉnh cầu của Từ khang quốc, sư giảng pháp ở Thọ ninh, sau đó, sư lần lượt trụ trì các chùa Pháp Hải, Thiên ninh, Ô cự v.v... Năm Thiệu hưng 21 (1151) sư tịch, thọ 63 tuổi. Sư có các trứ tác: Tuyết đường Hạnh Hòa Thượng Ngữ Lục 1 quyển, Tuyết đường Hạnh Hòa Thượng thập di lục 1 quyển. [X. Liên Đăng Hội Yếu Q. 17.; Đại Minh Cao Tăng Truyện Q. 6.].