Đảnh Lễ

《頂禮》 dǐng lǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: śirasā'bhivandate: tức hai đầu gối, hai cùi chỏ và đầu chạm đất, lấy đỉnh đầu lạy xuống, tiếp xúc với hai chân của đối tượng mình Đảnh Lễ. Khi hướng tượng Phật hành lễ thì nâng hai tay quá đầu, để khoảng trống, biểu hiện tiếp xúc với bàn chân đức Phật. Hình thức Đảnh Lễ này còn gọi là Đầu Đảnh Kính Lễ (, đỉnh đầu kính lạy), Đầu Diện Lễ Túc (, đầu mặt lạy dưới chân), Đầu Diện Lễ (, đầu mặt lạy); đồng nghĩa với Ngũ Thể Đầu Địa (, năm vóc gieo xuống đất), Tiếp Túc Lễ (, lạy chạm chân). Hình thức này thể hiện sự sùng kính tối cao của Ấn Độ, lấy cái cao nhất của mình là đỉnh đầu, kính trọng cái thấp nhất của người khác là chân. Như trong Tán A Di Đà Phật Kệ (, Taishō Vol. 47, No. 1978) có đoạn: “Phật Quang chiếu diệu tối đệ nhất, cố Phật hựu hiệu Quang Viêm Vương, Tam Đồ Hắc Ám mông quang khải, thị cố Đảnh Lễ Đại Ứng Cúng (耀, hào quang Phật tỏa sáng bậc nhất, nên Phật có hiệu Quang Viêm Vương, Ba Đường tăm tối mong soi tỏ, cho nên Kính Lễ Đại Ứng Cúng).” Hay trong bài Thơ Thu Nhật Du Đông Sơn Tự Tầm Thù Đàm Nhị Pháp() của Huệ Tuyên (, ?-?) nhà Đường lại có câu: “Tâm hoan tức Đảnh Lễ, đạo tồn nhưng mục kích (, tâm vui tức Kính Lễ, đạo còn như mắt thấy).” Hoặc trong Thủy Hử Truyện (), hồi thứ 42 có đoạn: “Tống Giang tại mã thượng dĩ thủ gia ngạch, vọng không Đảnh Lễ, xưng tạ Thần Minh tỉ hựu chi lực (, Tống Giang ở trên ngựa lấy tay đưa lên trán, hướng giữa trời vái lạy, Cảm Tạ sức trợ giúp của Thần Minh).” Ngoài ra, Đảnh Lễ cũng thể hiện sự Sùng Bái, kính phục. Như trong bộ tiểu thuyết Khách Song Nhàn Thoại () của Ngô Xí Xương (, ?-?) nhà Thanh có câu: “Sĩ đại phu thiên Đảnh Lễ bội phục, đại chúng vô bất thế khấp tán hoan (, hàng sĩ đại phu đều Sùng Bái bội phục, đại chúng chẳng ai mà không rơi lệ khen ngợi vui mừng).”