Đàm Ma Nan Đề

《曇摩難提》 tán mó nán tí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Dharma-nandi. Cũng gọi Đàm vô Nan Đề, Nan Đà. Dịch ý: Pháp hỉ, người nước Đâu khư lặc. Sư Xuất Gia từ thủa nhỏ, thông minh dĩnh ngộ, học suốt ba tạng Kinh Điển, hiểu sâu Tăng nhất a hàm và Trung a hàm. Năm Kiến nguyên 20 (384) đời Tiền Tần, sư đến Trường an, rồi cùng với các ngài Đạo An, Trúc Phật Niệm Phiên Dịch Trung a hàm 59 quyển và Tăng nhất a hàm 41 quyển, sau do ngài Tăng Già Đề Bà giáo chính, tức là bản dịch lưu hành hiện nay. Ngoài ra, sư còn Dịch Kinh A Dục Vương tức hoại mục Nhân Duyên 1 quyển, kinh Tăng Già La Sát tập 2 quyển, luận Tam Pháp Độ 2 quyển v.v... [X. Tăng Nhất A Hàm Kinh tự; A Dục Vương tử pháp ích hoại mục Nhân Duyên kinh tự; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 2., Q. 7., Q. 9., Q. 10.; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 3.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 3.].