Đại Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Pàli: Mahā-vihāra. Dịch âm: Ma Ha tì ha la. Ngôi chùa cổ ở Tích lan được xây dựng trong khu rừng Đại mi già (Pàli: Mahā-meghavana) gần cố đô A nâu la đà bổ la (Pàli: Anurādhapura). Vào thế kỉ III trước Tây lịch, thời vua Thiên Ái đế tu (Pàli Devānaṃpiyatissa, ở ngôi 247 B.C-207 B.C), con vua A dục của Ấn Độ là ngài Ma hi đà (Phạm: Mahinda) vâng mệnh vua A dục đến Tích lan hoằng pháp, giảng kinh Tượng tích dụ tiểu (Pàli: Cūḷahatthipadopamāsuttanta) cho vua Thiên Ái đế tu nghe ở núi Mi sa ca (Pàli: Missaka) gần thành A nâu la đà bổ la, trong bảy ngày, hóa độ được 8.500 người, bởi thế, nhà vua mới cho xây dựng chùa này trong khu rừng Đại mi già. Bấy giờ, em gái của ngài Ma hi đà tên là Tăng Già Mật Đa (Pàli: Saṃghamittā) cũng nhận lời thỉnh cầu của vua Thiên Ái đế tu, mang cành cây Đại Bồ Đề ở Phật Đà già da nơi đức Phật thành đạo, từ nước Ma Kiệt Đà, Trung Ấn Độ, đến trồng ở rừng Đại mi già tại Tích lan. Từ đó chùa này đã trở thành trung tâm văn hóa và giáo dục của Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Pàli:Theravàda) ở Tích lan. Vào cuối thế kỉ II trước Tây lịch, vua Mộc xoa già Ma Ni (Pàli: Duṭṭhagāmanī) lại xây dựng chùa Ma lợi già Bà Đề (Pàli: Maricavatti) ở phía tây và kiến tạo điện bằng đồng (Pàli: Loha-pàsàda) ở phía bắc chùa này. Thế kỉ I trước Tây lịch, vua Bà Tha già mã ni (Pàli: Vaṭṭagāmaṇi) dựng chùa Vô úy sơn (Pàli: Abhayagiri) cũng ở gần thành A nâu la đà bổ la, rồi dâng cúng Đại Tự cho trưởng lão Ma Ha đế tu (Pàli: Mahàtissa). Sau, ngài Ma Ha đế tu bị trục xuất khỏi Đại Tự, Môn Đồ của ngài bèn tách rời Đại Tự rồi chiếm cứ chùa Vô úy sơn, lập thành phái Vô úy sơn tự. Từ đó, Phật giáo đồ Tích lan chia làm hai phái: Đại Tự và Vô úy sơn tự, tranh nhau mở rộng quyền lãnh đạo Phật giáo. Vào đầu thế kỉ IV Tây lịch, vua Ma Ha Thắng Quân (Pàli: Mahàsena) phá hoại chùa này, nhờ có Tể tướng Mi già bàn na bạt đa (Pàli: Meghavaịịàbhaya) đem quân đến khuyên can, vua mới tạ tội và cho kiến thiết lại Đại Tự, về sau rất hưng thịnh. Cao Tăng Pháp Hiển Truyện cho biết, lúc ngài Pháp Hiển đến đây (đầu thế kỉ V), trong chùa có 3.000 vị tỉ khưu. Đến thế kỉ V, thời vua Ma Ha Nam (Pàli: Mahànàma), ngài Phật Âm (Pàli: Buddhaghosa) tìm được Tam Tạng và chú sớ được cất giữ ở Đại Tự, ngài mới dịch ra tiếngPàli. Chùa này là ngôi Tinh Xá đầu tiên ở Tích lan, từ xưa vốn đã là trung tâm của Phật giáo Tích lan, truyền lại cho đời sau rất nhiều Kinh Điển, chú sớ, khẩu quyết. Tam tạngPàli hiện còn đến nay hầu như đều do chùa này lưu giữ. Về sau, theo với vận nước, Đại Tự suy đồi dần. Đến cuối thế kỉ XII, thời vua Ba lạc ca ma Bà Ha (Pàli:Parakkamabàhu), chùa được trung hưng, nhưng cũng một thời rồi trở thành hoang phế, đến nay chỉ còn các di tích như cây Bồ Đề và điện bằng đồng. [X. Phiên Phạm Ngữ Q. 8.; Đại vương thống sử (Pàli:Mahà-vaôsa) 15, 20, 25, 33, 35, 36, 37; Đại Đường Tây Vực Kí Q. 11. Tăng Già la quốc điều]. (xt. Đại Tự Phái, Tích Lan Phật Giáo).