Diệu Thành Tự
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Myōjō-ji: ngôi chùa trung tâm của Nhật Liên Tông, hiện tọa lạc tại Takiya-chō (瀧谷町), Hakui-shi (羽咋市), Ishikawa-ken (石川縣); hiệu là Kim Vinh Sơn (金榮山), thường được gọi là Lang Cốc Tự (瀧谷寺) hay Lang Cốc Diệu Thành Tự (瀧谷妙成寺). Vào năm 1293 (Vĩnh Nhân [永仁] nguyên niên), tại vùng đất này đã có một ngôi chùa của Chơn Ngôn Tông là Thiên Bình Tự (天平寺) và Mãn Tạng Pháp Ấn (滿藏法印) trú trì tại đó; nhưng sau khi luận tranh Tông Nghĩa với Nhật Tượng (日像), ông chuyển sang Nhật Liên Tông, đổi tên thành Nhật Thừa (日乘) và sáng lập ra ngôi chùa này. Lại có thuyết cho rằng ngôi Mãn Nguyệt Tự (滿月寺) của Chơn Ngôn Tông được chuyển giao cho Nhật Tượng và ông đổi tên thành chùa hiện tại. Quần thể kiến trúc của chùa thuộc dưới Thời Đại Giang Hộ, ban đầu do vị Phiên Chủ vùng Gia Hạ (加賀, Kaga) là Tiền Điền Lợi Thường (前田利常, Maeda Toshitsune) xây dựng lên để cầu nguyện Siêu Độ cho thân mẫu ông là Thọ Phước Viện (壽福院). Các ngôi Đường Tháp, Già Lam của chùa là những kiến trúc vẫn còn giữ lại nét ban sơ khi mới dựng lên; đặc biệt ngôi tháp 5 tầng tuyệt mỹ vẫn hiện sừng sững giữa đất trời. Nơi Kinh Đường có tàng trữ nhiều văn Bản Kinh, đặc biệt là bản khắc gỗ Kinh Pháp Hoa, được khai bản trong khoảng thời gian niên hiệu Ứng Vĩnh (應永, 1394-1428). Bảo vật của chùa có những di phẩm của dòng họ Tiền Điền (前田, Maeda) ở vùng Gia Hạ và nhiều thứ khác nữa. Chùa có 10 kiến trúc cổ được công nhận là tài sản văn hóa quan trọng, gồm Chánh Điện, Tháp Năm Tầng, Tổ Sư Đường, Kinh Đường, Thư Viện, Lầu Chuông, Tam Quang Đường, Tam Thập Phiên Thần Đường, Nhị Vương Môn và Nhà Kho.