Cưu Na La

《鳩那羅》 jiū nà luó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Cưu Na La. Phạm: Kunàla. Cũng gọi là Câu na la, Cưu di la, Câu lãng nô. Là tên của loài chim có mắt đẹp. Dịch ý là chim mắt đẹp.
II. Cưu Na La. Là tên riêng của Thái tử Đạt Ma bà đà na (Phạm: Dharmavardhana), con vua A dục, vì đôi mắt Thái tử đẹp, giống như mắt chim Cưu Na La cho nên có biệt danh như thế. Cũng gọi là Câu na la. Thái tử sinh vào ngày mà vua A dục khởi công kiến tạo tám vạn bốn nghìn tháp, dung mạo tuấn tú, hai mắt trong xanh. Khi Thái tử lớn lên, đệ nhất phu nhân của vua A dục là bà Trưng sa lạc khởi đa (Phạm: Tiwyarakwità), say đắm dung mạo của Thái tử, ngấm ngầm muốn tư thông, Thái tử khóc lóc tạ tội. Phu nhân mang hận, nịnh hót nhà vua để sai Thái tử đi dẹp loạn tại nước Đức xoa Thi La, sau lại giả mạo lịnh vua móc hai mắt Thái tử rồi bỏ ở nơi hoang dã. Thái tử đã mù, lưu lạc về đến đô thành của vua cha, đêm đêm gảy đàn hát than thảm thiết. Vua nghe tiếng hát, ngờ là Thái tử, sai người ra dẫn vào để hỏi. Thái tử khóc lóc thương thảm, kể hết sự thật, vua mới biết là do Hành Vi của phu nhân, bèn gia hình nặng nề, Thái tử đọc bài kệ can vua (Đại 50, 147 thượng): Hết thảy người Phàm Phu, đều do nghiệp tạo ra - Nghiệp Duyên thiện và ác, đã đến thì phải chịu. Hết thảy mọi Chúng Sinh, mình làm mình chịu báo, con biết vì lẽ ấy, không nói người hại mình. Khổ này con tự làm, không ai khác gây cả, Nhân Duyên mắt mù này, không do người gây nên. Vua không nghe lời can của Thái tử và định hình phạt phu nhân. Về sau, vua đưa Thái tử đến Già Lam ở cây Bồ Đề, nơi A La Hán Cù sa ở để xin ngài dùng thuốc Pháp Lực chữa mắt cho Thái tử. Nhưng chưa bao lâu, Thái tử nghe tin phu nhân đã bị hành hình, bệnh lại tái phát và rồi qua đời. Cuộc đời của Thái tử Cưu Na La đã trở thành một nhân vật đầy kịch tính rất nổi tiếng tại Ấn Độ. Trong các kinh cũng có nhiều chỗ ghi sự tích này. [X. kinh Tạp a hàm Q. 23. - kinh A Dục Vương Q. 4. - kinh A Dục Vương tức hoại mục Nhân Duyên - Kinh Luật Dị Tướng Q. 33.].