Cương Luân Giả Tam
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: theo quan niệm của xã hội phong kiến ngày xưa, đây là mối quan hệ ràng buộc về Đạo Đức mà con người cần phải thực hiện, có 3 điều (tức Tam Cương [三綱]): đạo của vua tôi, cha con và vợ chồng. Có nghĩa là bầy tôi phải tuyệt đối phục tùng đức vua, con phải vâng lời cha và vợ phải thờ chồng. Như trong Tam Tự Kinh (三字經) có giải thích rằng: “Tam Cương giả, quân thần nghĩa, phụ tử thân, phu phụ thuận (三綱者、君臣義、父子親、夫婦順, Tam Cương là vua tôi sống có nghĩa, cha con thân thiết, chồng vợ thuận thảo).” Tam Cương thường đi đối với Ngũ Thường (五常, năm nguyên tắc quan hệ luân lý của con người, gồm Nhân [仁], Nghĩa [義], Lễ [禮], Trí [智] và Tín [信]) và không thể tách ly; được gọi là Cương Thường (綱常). Dưới thời Hán Võ Đế (漢武帝, tại vị 141-87 trước CN), xuất phát từ mối quan hệ giữa trời và con người và căn cứ vào tư tưởng “Thiên Tôn địa ty (天尊地卑, trời cao đất thấp)”, Đổng Trọng Thư (董仲舒, 179-104 trước CN) thiết lập ra Tam Cương Ngũ Thường (三綱五常) này. Trong Phong Thần (封神), hồi thứ 7, Phí Trọng Kế Phế Khương Hoàng Hậu (費仲計廢姜皇后) có câu: “Dưỡng thành sàm ngược Tam Cương tuyệt, nhưỡng tựu húng tường vạn tánh sầu (養成讒虐三綱絕、釀就酗戕萬姓愁, lớn lên lỗ mãng Tam Cương hết, gây rối say sưa trăm họ buồn).”