Chuy Y

《緇衣》 zī yī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: hay truy y, còn gọi là hắc y (), mặc y (), tức áo nhuộm màu đen, pháp y màu đen, là y phục thường dùng của tăng lữ. Từ này còn được dùng để chỉ cho tăng lữ, đồng nghĩa với Chuy Lưu (), chuy môn (), chuy đồ (); đối nghĩa với bạch y (, áo trắng), được dùng cho Cư Sĩ Tại Gia. Chư tăng thuộc Thiền Tông thường dùng loại y màu đen này. Dưới thời nhà Tống (, 420-479) có vị tăng Huệ Lâm () thường hay mặc áo đen tham nghị việc triều chính, được Khổng Khải () gọi là Hắc Y Tể Tướng (). Hay hai vị tăng Huệ Dữ ()Huyền Sướng () ở Trúc Lâm Tự (), Kinh Châu (), sống vào đầu nhà Tề (, 479-502) được gọi là Hắc Y Nhị Kiệt (). Cho nên, từ truy y trở thành tên gọi chuyên dùng cho vị Sa Môn (). Trong Đại Tống Tăng Sử Lược () của Tán Ninh () quyển Thượng trích dẫn phần Khảo Công Ký (), có đoạn giải thích về truy y có màu sắc như thế nào: “Vấn: 'Truy y giả, sắc hà trạng mạo ?' Đáp: 'Tử nhi thiển hắc, phi chánh sắc dã' (, Hỏi: 'Truy y, màu sắc của nó có hình dáng thế nào ?' Đáp: 'Màu tía mà đen nhạt, không phải thuần đen').” Như trong câu 5 trong 12 câu thỉnh Cô Hồn tương truyền do Thi Sĩ Tô Đông Pha (, 1036-1101) sáng tác, có đoạn: “Nhất Tâm triệu thỉnh: Xuất trần Thượng Sĩ, Phi Tích Cao Tăng, tinh tu Ngũ Giới Tịnh Nhân, Phạm Hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, hoàng hoa thúy trúc, không đàm Bí Mật chơn thuyên, bạch cổ lê nô, tùng diễn Khổ Không diệu kệ. Ô hô ! Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt, Thiền Thất hư minh bán dạ đăng. Như Thị truy y Thích Tử chi lưu, nhất loại Cô Hồn đẳng chúng (, Một lòng triệu thỉnh: ly trần Thượng Sĩ, chứng đạt Cao Tăng, Chuyên Tu Năm Giới Tịnh Nhân, các Tỳ Kheo Ni Phạm Hạnh, hoa vàng trúc biếc, chơn pháp Bí Mật luận không, trâu trắng mèo đen, nhọc thuyết Khổ Không diệu kệ. Than ôi ! Trăng canh ba qua cửa lạnh thấm, đèn nửa khuya Thiền Thất ảo mờ. Như vậy dòng tu sĩ mặc áo thâm đen, một loại Cô Hồn các chúng).” Hoặc trong bài thơ Vô Đề () của vua Trần Thái Tông (, tại vị 1225-1258) Việt Nam có câu: “Nhất úng tao khang khúc nhưỡng thành, kỷ đa trí giả một thông minh, phi duy độc phá truy lưu giới, bại quốc vong gia tự thử sinh (, một vò bã rượu ủ men thành, bao người trí tuệ chẳng thông minh, chẳng riêng Phá Giới tu hành kẻ, bại nước mất nhà tự đây sinh).” Tuy nhiên, trong Thủy Kinh Chú () quyển 6 của Li Đạo Nguyên (, ?-527) nhà Bắc Ngụy (, 386-534), gọi các đạo sĩ hái thuốc là “Truy phục tư huyền chi sĩ (, hạng người mặc áo đen và tư duy những điều huyền nhiệm).” Như vậy, chúng ta có thể biết được rằng màu đen là phục sắc của tôn giáo từ ngày xưa, không phải chỉ riêng Phật Giáo. Cả Thích Giáo lẫn Đạo Giáo phần lớn đều giống nhau, chỉ khác nhau ở mũ đội trên đầu. Cuối cùng, mũ vàng là loại chuyên dụng của đạo sĩ, áo đen là Biệt Hiệu của tăng sĩ; và dần dần y phục màu đen trở thành phục sắc chính của tu sĩ Phật Giáo. Trong Bắc Sử () quyển 2, Thượng Đảng Cang Túc Vương Hoán Truyện () có chi tiết cho hay rằng: “Sơ Thuật thị ngôn: 'Vong cao giả, hắc y, do thị tự Thần Võ Hậu mỗi xuất môn bất dục kiến tang môn, vi hắc y cố dã' (, ban đầu họ Thuật bảo rằng: 'Người mất tuổi cao thì mặc áo đen, do vậy từ khi Thần Võ Hậu mỗi lần ra cổng thành thì chẳng muốn thấy tăng sĩ, vì họ mặc áo đen').” Qua đó, chúng ta biết rằng nhà vua kỵ gặp Sa Môn Phật Giáo, chứ không phải đạo sĩ. Sau này Chu Võ Đế (, 560-578) nhân lời sấm ngữ này mà cấm tu tăng sĩ mặc sắc phục màu đen, và ra lịnh đổi thành màu vàng. Đây cũng là một trong những Nguyên Nhân vì sao ngày nay tu sĩ Việt Nam mặc y phục màu vàng. Sắc phục hiện tại của tu sĩ Phật Giáo các nước tập trung chủ yếu ở 4 màu: vàng đậm, vàng, đen, xám. Trong Lương Hoàng Sám () quyển 3 có câu: “Nguyện Phật Nhật dĩ đương không, chiếu u đồ chi khổ thú, cưu Tam Học chi truy lưu, lễ tam thiên chi Đại Giác, ngã tâm khẩn khẩn, Phật đức nguy nguy, ngưỡng khấu Hồng Từ, Minh Huân gia bị (, nguyện trời Phật thường trên không, chiếu tối tăm chốn nẻo khổ, chuyên Tam Học bậc tu hành, lạy ba ngàn đấng Đại Giác, tâm con khẩn thiết, đức Phật vời vợi, ngưỡng lạy ơn từ, thầm thương gia hộ).”