Chơn Không, Chân Không

《眞空》 zhēn kōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: cảnh giới Niết Bàn của Phật Giáo Nguyên Thủy. Không phải ngụy nghĩa là chân (), lìa tướng gọi là không (). Lý tánh của Chân Như lìa hết thảy tướng Mê Tình thấy được, dứt bặt và vượt qua tương đối của cái gọi là “không”, “có”; nên gọi là Chân Không. Đó là Không Chân Như () của Khởi Tín Luận (), là Nhị Không Chơn Như () của Duy Thức (), cũng là Chân Không Quán () trong Tam Quán của Hoa Nghiêm (). Bên cạnh đó, Phật Giáo Đại Thừa lấy cái có (, hữu) của chẳng phải có (, phi hữu) gọi là diệu hữu (), và gọi cái không () của chẳng phải không (, phi không)Chân Không. Đây chính là cảnh giới Chân Không tối cực của Phật Giáo Đại Thừa. Như trong Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (, Taishō Vol. 48, No. 2008) có câu: “Niệm Niệm thuyết không, bất thức chơn không (, mỗi niệm bảo không, chẳng biết chơn không).” Hay trong bản văn Trường Can Tự Chúng Thực Bi () của Từ Lăng (, 507-583) nhà Trần thời Nam Triều có đoạn: “An trú Đại Bát Niết Bàn, hành tại chơn không, thâm nhập Vô Vi Bát Nhã (, an trú Đại Bát Niết Bàn, hành ở chơn không, nhập sâu Vô Vi Bát Nhã).” Trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 3 lại có bài kệ rằng: “Diệu hương khởi xứ vô sở khởi, bổn lai vô vật tức Chân Không, Thái Hư châu biến thành hương vân, bất ly Chân Không hiện diệu giả (, hương mầu dấy khởi không chốn khởi, xưa nay không vật tức Chân Không, trời đất cùng khắp thành mây hương, chẳng lìa Chân Không hiện tướng giả).” Thiền Sư Thanh Đàm (, ?-1173) của Việt Nam có bài thơ rằng: “Tây lai trực chỉ vị tâm tông, hà nãi Cửu Niên Diện Bích trung, tất dã đầu Cơ Cơ vị thục, thục thời nhiên hậu hiển Chân Không (西, từ Tây thẳng đến chỉ tâm tông, sao lại chín năm mặt vách tường, ắt cũng Căn Cơ chưa được chín, chín rồi sau mới lộ Chân Không).”