Chính Trừng
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(1274-1339) Vị Tăng Tông Lâm tế đời Nguyên. Người Liên giang, Phúc châu, họ Lưu, tự Thanh chuyết. Mười sáu tuổi Thụ Giới Cụ Túc tại chùa Khai nguyên, từng theo hầu các sư Cốc nguyên nhạc, Vô phương phổ, Đại yết chân sáu năm. Hai mươi sáu tuổi, đến tham yết Ngu cực tuệ ở chùa Tịnh từ, Chiết giang, giữ chức trông nom lầu kinh. Mười lăm năm sau, từ chức rồi đi tham vấn các bậc trưởng lão, như Hổ nham ở chùa Linh ẩn, Đông nham ở núi Dục vương, Tưởng sơn Nguyệt đình v.v..., tới đâu sư cũng được coi là một khí tượng lớn. Về sau, bắt đầu hoằng pháp ở núi Kê túc, kiến thiết nhà tăng, tiếp hóa đại chúng từ các phương đến. Năm Thái định thứ 3 (1326) sư sang Nhật, tháng một năm sau đến Kinh đô, rất được các nhà cầm quyền tại Bắc điều thời đó coi trọng, từng ở các chùa Kiến trường, Tịnh trì, sau lui về ở Thiền cư am tại Phúc sơn. Năm Nguyên hoằng thứ 3 (1333), Thiên hoàng Đề Hồ đến Kinh đô, thỉnh sư ở chùa Kiến trường, ba năm sau lại dời đến chùa Nam thiền, Thái thú Tín nùng qui y sư, xin làm Đệ Tử. Ngày 17 tháng giêng năm Lịch ứng (Nhật bản) thứ 2, sư để lại bài kệ Tì lam cuốn dựng nước biển không, trời ba mươi ba sao đẩu ướt, thần đất giận cầm roi trâu sắt, lửa đá xẹt ra đuổi không kịp rồi tịch, thọ sáu mươi sáu tuổi, năm mươi tuổi hạ, vua ban Thụy Hiệu Đại giám Thiền Sư. Lưu phái của sư được gọi là Thanh chuyết phái, hoặc là Đại giám Môn Đồ, là một trong hai mươi bốn dòng của Thiền Tông Nhật bản. Tác phẩm có: Đại giám thanh qui (mấy quyển), Ngữ Lục 7 quyển. [X. Phù Tang Ngũ sơn kí Q. 3. - Diên bảo Truyền Đăng lục Q. 4. - Bản Triều Cao Tăng Truyện Q. 25.].