Chân Lí
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Satya. Đứng về phương diện nguyên ngữ mà nói thì Chân Lí là tại..., một danh từ trừu tượng, hàm ý phải đầy đủ. Tức ở ngay trong cái hiện thực tồn tại mà giác ngộ Chân Lí, ngoài hiện thực, không có Chân Lí. Tư tưởng này thừa kế lập trường Phạm Ngã Nhất Như (Phạm: Brahma-àtma-aikyam) trong Áo Nghĩa Thư. Phật giáo Đại Thừa thì dùng từ Chân Như..... (Phạm: Tathatà) để biểu Thị Chân lí. Đứng về phương diện ngữ ngôn mà nói thì Tathatàlà danh từ trừu tượng Tathà, hàm ý có như ..., như cùng với.... Nếu muốn nắm bắt được hiện thực tồn tại mà không dùng như cùng với ... để biểu thị thì không thể nói hay Thí Dụ được. Trung Quốc xưa nay dịch là chỉ ma ý là tự nhiên như thế. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 32 nói thì Như, Pháp Tính, Thực tế đều là tên gọi khác của thực tướng các pháp. Vì thế nên biết, Chân Như, Pháp Tính (Phạm: Dharamatà), Thực tế (Phạm: Bhùta-koỉi), Chư Pháp Thực tướng (Phạm: Tattvasya lakwana, Dharmatà) v.v... đều là tên khác của Chân Lí. Ngoài ra, còn có tiếng đồng nghĩa nữa là danh từ Duyên Khởi (Phạm:pratìtya-samutpàda), có nghĩa là muôn sự muôn vật tồn tại được là nhờ các mối quan hệ hỗ tương - tư tưởng này bắt nguồn từ tư tưởng căn bản của Phật giáo nguyên thủy, cho đến Phật giáo Đại Thừa, là Chân Lí quan nhất quán của Phật giáo. Phật giáo Nhật bản, ngoài danh từ Chân Lí ra, các ngài Pháp Nhiên, Thân Loan còn Đề Xướng từ Tự nhiên Pháp Nhĩ . Trong Mạt Đăng Sao, ngài Thân Loan nói, chữ tự trong cái gọi là tự nhiên, là chính cái lí ấy chứ không phải xí đồ của Hành Giả. Cái gọi là nhiên là vốn nó như thế, chứ không phải do Hành Giả an bài. Hết thảy đều do Thệ Nguyện của Như Lai dẫn đến, cho nên gọi là Pháp Nhĩ. Tức tư tưởng cho rằng người ta phải buông bỏ tất cả tư khảo, kế hoạch đối với muôn pháp, tất cả phải tiếp thu Thệ Nguyện của Phật Di đà mới có thể biết được Chân Lí.