Chân Không Diệu Hữu
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Tức là Tính viên thành thực trong ba tính do Duy Thức thuyết minh. Tính viên thành thực là Chân Lí do lìa hai chấp ngã, pháp mà được hiển hiện. Vì xa lìa hai chấp nên gọi Chân Không - cũng chẳng phải cái không tương đối với cái có do Tiểu Thừa chủ trương, mà là cái có một chân thực, cho nên gọi là Diệu hữu. Vì là Chân Không, nên các pháp Duyên Khởi y nhiên như thế - vì là diệu hữu nên muôn pháp Nhân Quả Nhất Như. Đó là nghĩa sắc tức không, không tức sắc. Vì thế nên biết Chân Không và diệu hữu chẳng phải sai khác - tất cả sự tồn tại (năm uẩn) đều do các điều kiện (Nhân Duyên) hòa hợp mà thành, cho nên không có thể thực (không) mà chỉ là sự tồn tại giả có (hữu), nhưng quan niệm Thế Gian lại thừa nhận sự tồn tại ấy là có thực. Tư tưởng Chân Không Diệu Hữu không phải chỉ giới hạn trong Duy Thức học mà ngay cả tư tưởng thuộc Như Lai Tạng hệ cũng nhấn mạnh điều đó. Chân Không trong Phật giáo chẳng phải chủ nghĩa hư vô, là Tác Dụng mầu nhiệm sâu kín đối với hiện thực mà được phát huy. [X. Bát Nhã tâm Kinh Tán - Ngũ Giáo chương thông lộ kí Q. 23.]. (xt. Hữu Vô).