Chân Giác

《真覺》 zhēn jué

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

I. Chân Giác. Sự giác ngộ cùng tột của Phật. Để Phân Biệt với Tương tự giác, Tùy phần giác của Bồ Tát, nên gọi là Chân Giác.
II. Chân Giác (605-713). Vị thiền tăng đời Đường. Người huyện Vĩnh gia, tỉnh Triết giang. Tự Minh đạo. Lúc đầu tập Thiên thai Chỉ Quán, sau tu Thiền quán. Có lần cùng với Huyền Lãng ở Tả khê và Huyền sách ở Đông dương đến tham yết Lục tổ. Khi gặp tổ, qua mấy câu vấn đáp liền được Ấn Khả, và lưu lại một đêm, cho nên người đương thời gọi là Nhất Túc Giác........ (giác ngộ trong một đêm). Sau về Ôn châu, đại chấn Thiền Phong, học giả từ bốn phương đến học rất đông, người thời bấy giờ tôn xưng là Chân Giác đại sư. (xt. Huyền Giác).
III. Chân Giác (1265-1334). Vị tăng phái Hổ khâu thuộc tông Lâm tế đời Nguyên. Người huyện Thiên thai, tỉnh Triết giang, họ Diệp. Tự Vô kiến, Pháp Danh Tiên đổ. Theo ngài Cổ điền hậu công ở Thiên minh Xuất Gia Thụ Giới, sau Tham Học ngài Văn bảo ở Phương sơn, được đại ngộ và làm Đệ Tử nối pháp. Sư dựng am cỏ trên nền chùa cũ của ngài Cao am Thiện ngộ trên Thiên thai hoa đính, Hóa Đạo rất thịnh, đời gọi là Cao am tái thế. Năm Nguyên thống thứ 2 sư Thị Tịch, thọ bảy mươi tuổi. Hiệu tháp là Tịnh quang. Có hai quyển Vô kiến Đổ Thiền Sư Ngữ Lục truyền ở đời. [X. Tục đăng tồn cảo Q. 7. - Phật Tổ Cương Mục Q. 41. - Ngũ Đăng Nghiêm Thống Q. 21.].