Cầu Na Tì Địa

《求那毗地》 qiú nà pí dì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(? - 502) Phạm: Guịavfdhi. Dịch ý là Đức tiến, An tiến. Vị tăng Dịch Kinh đời Nam Tề. Người trung Ấn Độ. Xuất Gia từ thủa nhỏ, theo học pháp sư Đại Thừa Tăng Già tư na, thường ngày Phúng Tụng và thuộc hiểu hơn hai mươi vạn lời kinh Đại Thừa, Tiểu Thừa. Thông suốt Kinh Điển nội ngoại, còn giỏi cả các thuật âm dương, bói toán, xem giờ nghiệm việc. Đầu năm Kiến nguyên (479- 482) đời Cao đế nhà Tề, sư đến ở chùa Tì da li hoằng hóa Phật Pháp, sư rất uy nghi đoan túc, các bậc vương công quí nhân thay nhau thỉnh mời. Tại Ấn Độ, Tăng Già tư na rút ra Một trăm việc Thí Dụ từ trong tạng kinh, rồi biên thành một bộ để dạy người mới học, mà sư cũng tinh thông nghĩa lí của các việc ấy. Mùa thu năm Vĩnh minh thứ 10 (492) sư đem dịch ra thành bốn quyển, tức là kinh Bách dụ bốn quyển. Sư còn Dịch Kinh Thập Nhị Nhân Duyên một quyển, và kinh Tu đạt trưởng giả một quyển. Kể từ năm Đại minh (457-464) đời Lưu Tống trở đi, việc Dịch Kinh suy vi dứt tuyệt, đến đây mới lại có các bản dịch mới xuất hiện, nên người đương thời thấy thế đều vui mừng Tán Thán. Sư là người đôn hậu, có những người từ muôn dặm đến qui y, những thương gia từ Nam hải cũng đều tôn thờ và giúp đỡ sư rất nhiều trong các Phật Sự. Sau, sư làm chùa Chính Quán ở Kiến khang (nay là Nam Kinh), Điện Đường tráng lệ, lầu gác khang trang, tiếp thu đồ chúng đông đủ, Đạo Nghiệp rất thịnh. Mùa đông năm Trung hưng thứ 2, sư Thị Tịch, tuổi thọ không rõ. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q. 3. - Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 11. - Xuất Tam Tạng kí tập Q. 14. - Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 6.].