Câu Na Hàm Mâu Ni Phật

《拘那含牟尼佛》 jū nà hán móu ní fú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Kanakamuni-buddha, Pāli: Konāgamana-buddha: âm dịch là Ca Na Ca Mâu Ni () Yết Nặc Ca Mâu Ni (), ý dịch là Kim Tiên Nhân () Kim Sắc Tiên (), Kim Tịch (), vị thứ 5 trong 7 vị Phật thời Quá Khứ, và vị thứ 2 trong ngàn vị Phật thời Hiền Kiếp. Trong Kinh Đại Bản () của Trường A Hàm (Dīgha-nikāya, ) bản tiếng Pāli và Hán dịch, cũng như các bản dị dịch của Thất Phật Kinh (), Thất Phật Phụ Mẫu Tánh Tự Kinh (), v.v., có nêu rõ lúc ngài ra đời, tên dòng họ, cha mẹ, nơi xuất thân, vợ con, thành đạo dưới gốc cây gì, thi giả, Đệ Tử đầu tiên là ai, v.v. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, hình như ngài được xem như là vị Phật có thật trong thời Quá Khứ, và hình như có ngôi tháp an trí kim thân Xá Lợi của ngài. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (西), quyển 6 của Huyền Trang (), ở vùng phụ cận của thành Xá Vệ (Sanskrit: Śrāvastī, Pāli: Sāvatthī ) có di chỉ thành đô nơi xuất thân của vị Phật này. Ở phía Bắc các tháp có tôn thờ di thân Xá Lợi của ngài, trước tháp có trụ đá với đầu sư tử phía trên và tương truyền trụ đá này do vua A Dục (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka ) dựng nên. Trên thực tế trụ đá này được phát hiện vào năm 1895 tại địa phương Nigāri Sāgar thuộc phía Bắc vườn Lâm Tỳ Ni (s, Pāli: Lumbinī ). Chung quanh trụ đá ấy có những dòng chữ của vua A Dục ghi rằng: “Vào năm thứ 14 sau khi tức vị, Thiên Ái Hỷ Kiến Vương (vua A Dục) đã kiến lập them ngôi tháp của Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, đến năm thứ 20 sau khi tức vị, nhà vua tự thân hành đến cúng dường và cho dựng trụ đá”. Như vậy trụ đá có đầu hình con sư tử như Huyền Trang ghi trong trước tác của ông là hoàn toàn nhất trí.