Câu Hữu Y

《俱有依》 jù yǒu yī

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Câu Hữu Sở Y, Tăng Thượng Duyên y, Câu hữu căn. Chỉ các pháp sở y có cùng một lúc với tâm và Tâm Sở. Luận Thành Duy Thức quyển 4 chép, Câu Hữu Sở Y của năm thức có bốn thứ, tức năm căn sắc và ba thức thứ sáu, thứ bảy, thứ tám. Tiểu Thừa bảo, ý căn là thức thứ sáu không gián đoạn, cho nên chẳng phải là Câu Hữu Y. Tông Pháp tướng trong luận Thành Duy Thức quyển 4, luận Thành Duy Thức thuật kí quyển 4 phần cuối, có nêu lên các thuyết khác nhau của các ngài Hộ Pháp, Nan Đà, An tuệ và Tịnh Nguyệt để giải thích rộng về Nghĩa Sở y và lấy thuyết của ngài Hộ Pháp làm nghĩa chính, biện giải sự khu biệt giữa Y và Sở y, nói rằng nghĩa của Y rộng thông đối với hết thảy pháp, còn Sở y thì chỉ hạn ở trong Sáu Chỗ mà thôi. Lí do của nó có bốn nghĩa:
1. Nghĩa Quyết Định.
2. Nghĩa có cảnh.
3. Nghĩa làm chủ.
4. Khiến tâm, Tâm Sở lấy cái tự Sở Duyên. Duy chỉ có năm căn và ba thức thứ sáu, bảy, tám là có đầy đủ bốn nghĩa trên đây, cho nên là Câu Hữu Y của tâm và Tâm Sở. Nếu đem tâm năng y mà Phân Biệt, thì Câu Hữu Y của năm Căn Thức trước có bốn thứ, thức thứ sáu có hai thứ, thức thứ bảy, thứ tám, mỗi thức có một thứ Câu Hữu Y. Bốn thứ Câu Hữu Y của năm thức trước là:
1. Đồng Cảnh Y, còn gọi là Thuận thủ y, tức là năm căn - căn và thức cùng nương vào cảnh hiện tại mà sinh, cho nên gọi là Đồng Cảnh Y.
2. Phân Biệt y, tức là thức thứ sáu - khi năm thức trước Sinh Khởi thì ý thức tất cũng Sinh Khởi, năm thức trước không Phân Biệt, mà ý thức thì có Phân Biệt cho nên gọi là Phân Biệt y. Bởi vì năm thức cùng duyên không Phân Biệt, thức thứ sáu nguyên là thức tầm.. và tứ tương ứng hay thủ cảnh, lại có khả năng khiến năm thức thấy rõ thủ cảnh, cho nên gọi là Minh liễu y.
3. Nhiễm tịnh y, tức là thức thứ bảy - các thức trước không có sạch nhơ khác nhau, phần vị sạch nhơ y vào thức thứ bảy mà thành, vì thế còn gọi là Phần vị y.
4. Căn bản y, tức là thức thứ tám - vì thức này là cái gốc nguồn cho các thức nương tựa mà Sinh Khởi, cho nên gọi là Căn bản y. Trong bốn y kể trên, duy Bất Cộng y của năm thức trước là Đồng Cảnh Y, tức là năm căn sắc, còn ba y kia là cộng y của các thức. [X. luận Thành Duy Thức thuật kí Q. 7. phần cuối - luận Thành Duy Thức Liễu Nghĩa Đăng Q. 5. phần đầu - Bách pháp vấn đáp sao Q. 1.].