Cao Phong Nguyên Diệu

《高峰原妙》 gāo fēng yuán miào

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kōhō Genmyō, 1238-1295: vị tăng của phái Phá Am và Dương Kì thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, hiệu là Cao Phong (), xuất thân Huyện Ngô Giang (), Phủ Tô Châu (), Tỉnh Giang Tô (), họ Từ (), sanh ngày 23 tháng 3 năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Hy () nhà Nam Tống. Năm 15 tuổi, ông xuống tóc Xuất Gia, đến năm 17 tuổi thì theo tu học với Pháp Trú ()Mật Ấn Tự () vùng Gia Hòa (). Ông còn học cả giáo học Thiên Thai, sau đến tham vấn Đoạn Kiều Diệu Luân (), rồi Tuyết Nham Tổ Khâm () và đắc pháp với vị này. Vào năm thứ 2 (1266) niên hiệu Hàm Thuần (), ông ẩn cư tại vùng Long Tu (), Lâm An () và 5 năm sau thì hoát nhiên triệt ngộ. Đến năm thứ 10 cũng niên hiệu trên, ông đến trú tại Song Kế Phong (), rồi đến năm thứ 16 (1279) niên hiệu Chí Nguyên (), ông đến Tây Phong (西) trên Thiên Mục Sơn () và bắt đầu hoằng pháp ở Sư Tử Nham (). Ông sáng lập ra 2 ngôi chùa Sư Tử ()Đại Giác (), Đệ Tử Tham Học có đến cả ngàn người và thọ giới hơn vạn người. Ông dùng Gia Phong gọi là Tam Quan Ngữ () để lại cho hậu thế bộ Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục () 2 quyển. Vào ngày mồng 1 tháng 12 năm đầu niên hiệu Nguyên Trinh (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 58 tuổi đời và 43 Hạ Lạp, được ban tặng cho Thụy Hiệu là Phổ Minh Quảng Tế Thiền Sư (). Chi Tốn () soạn văn bia tháp, Cư Sĩ Trực Ông () và Hồng Kiêu Tổ () viết Hành Trạng của ông.