Cảnh Đức Truyền Đăng Lục

《景德傳燈錄》 jǐng dé chuán dēng lù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Keitokudentōroku: bộ Đăng Sử tiêu biểu nhất do Vĩnh An Đạo Nguyên () nhà Tống, tương đương đời thứ 3 của môn hạ Pháp Nhãn, biên tập thành thông qua kết hợp các bản Bảo Lâm Truyện (), Tục Bảo Lâm Truyện (), Huyền Môn Thánh Trụ Tập (), Tổ Đường Tập (), v.v., toàn bộ gồm 30 quyển. Có thuyết cho là do Củng Thần () ở Thiết Quan Âm Viện (), Hồ Châu () soạn. Nó được hoàn thành vào năm đầu (1004) niên hiệu Cảnh Đức (), sau khi được nhóm Dương Ức () hiệu đính thì được thâu lục vào Đại Tạng và san hành vào năm thứ 3 (1080) niên hiệu Nguyên Phong (). Phần mạo đầu có lời tựa của Dương Ức và bản Tây Lai Niên Biểu (西), từ quyển 1 cho đến 29 thâu lục các truyền ký cũng như Cơ Duyên của 52 đời, từ 7 vị Phật trong Quá Khứ, trải qua 28 vị tổ của Tây Thiên, 6 vị tổ của Đông Độ cho đến hàng Đệ Tử của Pháp Nhãn Văn Ích (), gồm tất cả 1701 người (người đời thường căn cứ vào đây mà gọi là 1700 Công Án, nhưng trong đó thật ra có rất nhiều người chỉ có tên thôi, còn truyền ký và Cơ Duyên thì không có). Riêng quyển thứ 30 thì thâu lục các kệ tụng liên quan đến Thiền Tông, và phần cuối có kèm theo lời bạt. Ảnh hưởng của bộ này rất to lớn, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác Lập Giáo điều độc đáo của Thiền Tông. Bản được thâu lục vào trong Đại Chánh Đại Tạng Kinh (, Taishō) 51 là bản trùng san của niên hiệu Nguyên Hựu (, 1314-1320) nhà Nguyên; trong đó có thêm lời tựa của Dương Ức, văn trạng trùng san, bảng Niên Biểu Tây Lai, lá thư của Dương Ức, lời bạt của Trịnh Ngang (), lời tựa sau sách của Hoằng Trí Chánh Giác () và Lưu Phỉ (). Tại Nhật bản, nó cũng được xem như là thư tịch căn bản Nhất Thể hiện lập trường của Thiền Tông. Từ cuối thời Thất Đinh (, Muromachi) trở đi, thỉnh thoảng nó được khai bản ấn hành, và dưới Thời Đại Giang Hộ (, Edo) có xuất hiện bộ Diên Bảo Truyền Đăng Lục () của Vạn Nguyên Sư Man () cũng do ảnh hưởng hình thái ấy. Tống bản hiện tồn có bản của Phúc Châu Đông Thiền Tự (福) được thâu lục vào Đại Tạng Kinh (hiện tàng trữ tại Đề Hồ Tự [, Daigo-ji], Đông Tự [, Tō-ji] của Nhật), bản sở tàng của Kim Trạch Văn Khố (, Kanazawa-bunko, có khuyết bản), v.v. Thêm vào đó, một số bản san hành đang được lưu hành tại Nhật là bản năm thứ 4 (1348) niên hiệu Trinh Hòa (), Bản Ngũ Sơn năm thứ 3 (1358) niên hiệu Diên Văn (), bản năm thứ 17 (1640) niên hiệu Khoan Vĩnh (), v.v.