Ca Tụng
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Là kệ tụng Tán Thán Công Đức của chư Phật và lịch đại Tổ Sư. Phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa (Đại 9, 31 trung), nói: Trong đây đã có toàn thân của Như Lai, nên đem tất cả hương hoa, Anh Lạc, phan lọng, cờ phướn, Ca Tụng, cúng dường Cung Kính, tôn trọng Tán Thán tháp này’’. Kệ tụng khen ngợi đức của người khác, gọi là ca kệ. Luận Đại trí độ quyển 35 (Đại 25, 316 hạ): Cô gái Hỉ đức thấy thái tử, tự mình làm ca kệ khen ngợi thái tử, nhìn một cách trìu mến, mắt không hề chớp’’. Dùng ca dao Tán Thán Công Đức của Phật, gọi là ca thán. [X. kinh Chính Pháp hoa Q. 4.; kinh Phật Thuyết vô lượng thọ Q.hạ]. CA VĂN Tiếng gọi tắt của Thích Ca văn Phật, tức là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Viên ngộ Phật Quả Thiền Sư Ngữ Lục quyển 16 (Đại 47, 786 trung), nói: Bậc lão nhân Ca văn từ lâu vẫn giữ im lặng về điểm cốt tủy này, hơn 300 hội vẫn không nói rõ ràng ra, chỉ tùy cơ cứu vớt, chờ thời tiết đến. CA VỊNH Hàm ý Ca Tụng, ngâm vịnh. Giới luật cấm ngặt hát ngâm, nếu tỉ khưu tụng kinh với giọng hát ngâm ê a thì mắc tội vượt pháp. Nhưng Đại Thừa thì cho được hát ngâm, như Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích quyển 6 nói: mỗi tiếng ca vịnh đều là Chân Ngôn. Kinh Quán đính quyển 12 (Đại 21, 534 thượng), nói: Thắp hương, rải hoa, ca vịnh, khen ngợi, đi quanh trăm vòng, trở lại chỗ cũ, ngồi thẳng tư duy, nghĩ đến Phật Dược Sư lưu li quang có vô lượng Công Đức. [X. Tì nại da tạp sự Q. 6.].