Biến Văn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Là những tác phẩm văn học, chịu ảnh hưởng Phật giáo, được lưu hành từ đời Đường trở đi. Phật giáo dùng loại văn này để trình bày những truyện cổ trong kinh Phật và để giảng giáo nghĩa nói chung. Biến nghĩa là thay đổi, cải biến lối viết. Lối hành văn lấy chất liệu từ những truyện giàu tinh Thần Biến trong các Kinh Điển Phật giáo, rồi trong lúc phô diễn, thay đổi làm cho lời văn sống động phổ cập, thích hợp với Sự Giáo hóa dân chúng, lối văn này gọi là Biến Văn. Các học giả Nhật bản thông thường cho Biến là bức tranh biến tướng; Pháp Hội thuyết minh giảng xướng tranh iến tướng thì gọi là Tục giảng và những lời văn phổ thông dùng trong Tục giảng gọi là Biến Văn. Khoảng đời Đường và Ngũ Đại, các chùa viện khi giảng kinh Thuyết Pháp, thường phối hợp Biến Văn và tranh biến tướng với nhau; về sau thì Biến Văn là chỉ chung văn học nói, hát dân gian cùng tính chất. Niên đại sản sinh ra Biến Văn có thể là thời kì giữa đời Đường. Biến Văn xưa nhất hiện còn đến nay là Biến Văn Thân ủy ngã hổ (đem thân cho cọp đói ăn). Tổng số các nguyên bản hiện còn bao nhiêu không được rõ, nhưng đại khái có tới 80 hoặc 90 loại và về tên gọi cũng có trường hợp do người đời sau đặt lại. Phạm trù của Biến Văn, ngoại trừ tên Biến Văn ra, còn tất cả Biến, Duyên Khởi (lời mở đầu Biến Văn), Truyện, Truyện văn, Áp tọa văn (văn vần đọc trước khi giảng kinh), Xướng văn, Giảng xướng văn, giảng kinh văn, Từ, Từ văn, Ca v.v... đều thuộc Biến Văn. Trong đó, sự khác nhau giữa Giảng kinh văn và Biến Văn là ở chỗ, hình thức giảng kinh văn có ba đoạn Kinh , Bạch, Xướng, còn hình Thức Biến văn thì thường không dẫn văn kinh, hoặc giải nói câu văn kinh, mà chỉ có hai đoạn Bạch, Xướng để cho thích hợp với việc giáo hóa dân chúng phổ thông, cho nên nội dung giảng xướng đều lấy tranh vẽ làm trung tâm, và phương thức tuyên giảng thì không bị gò bó mà là thông tục hóa. Nội dung Biến Văn phần nhiều lấy tài liệu trong Kinh Điển Phật giáo hoặc những truyện cổ có sẵn của Trung Quốc. Những Biến Văn lấy tài liệu từ các Kinh Điển Phật giáo thì có: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Biến Văn, A Di Đà Kinh Biến Văn, Duy Ma Kinh Biến Văn, Mục Liên Cứu Mẫu Biến Văn, Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh Biến Văn, Hàng Ma Biến Văn, Địa Ngục Biến văn, Bát Tướng biến, Mục liên Duyên Khởi, Ôn Thất kinh giảng xướng áp tọa văn v.v... Còn Biến Văn lấy tài liệu từ các truyện cổ Trung Quốc thì có: Vương lăng Biến Văn, Ngũ Tử Tư Biến Văn, Tô vũ Lí lăng chấp biệt từ, Trương Hoài Thâm Biến Văn, Vương chiêu quân Biến Văn, Thuấn tử chí hiếu Biến Văn v.v... Về hình thức đại khái có ba loại: Văn xuôi và văn vần xen lẫn nhau, toàn văn xuôi, toàn văn vần. Hình thức thứ nhất thường thấy hơn, đối với văn học thông tục về sau như Bảo Quyển, Cổ từ, Đàn từ v.v... có ảnh hưởng rõ rệt. Ngoài ra còn có hình thức xướng kinh, Áp tọa văn v.v... như đã nói ở trên. Duy Ma Kinh Biến Văn thì trước hết dẫn văn kinh, kế đến dùng văn vần thuật rõ nghĩa kinh để tiện việc ca xướng. Còn như Bát Tướng thành đạo Biến Văn, thì ở sau văn kinh, văn vần lại chú Thích Nghĩa của văn vần, dùng thể hội thoại để nói rõ thêm. Hoan Hỉ Quốc Vương Duyên Biến văn thì ngay từ đầu đã trình bày sơ qua về nguyên do của chính văn.Năm Quang tự 25 (1899) đời Thanh, những tư liệu văn học rất giàu tính dân gian ở thời Đường và Ngũ Đại đã được tìm thấy trong hang đá của nhà Nghìn Phật ở núi Minh sa thuộc huyện Đôn hoàng, trong đó có Biến Văn. Từ đó về sau, nguyên điển Biến Văn được sưu tập, rồi sửa chữa, khắc lại, làm thành Mục Lục, nghiên cứu giới thiệu v.v... Nguyên điển Biến Văn hiện nay phần nhiều được cất giữ trong Đại anh bác vật quán ở Luân đôn, quốc gia đồ thư quán ở Ba lê và Đồ thư quán tại Bắc kinh. [X. Luân đôn bác vật quán đôn hoàng thư mục (La phúc trường biên soạn); Luân đôn sở tàng đôn hoàng quyển tử kinh nhãn Mục Lục (Hướng đạt biên soạn); Ba lê quốc gia đồ thư quán đôn hoàng thư mục (La phúc trường); Ba lê đồ thư quán đôn hoàng tả Bản Thư mục (Trần tường); Biến Văn cập xướng kinh văn Mục Lục (Hướng đạt); Đôn hoàng sở xuất Biến Văn hiện tồn Mục Lục (Chu thiệu lương); Đôn hoàng linh thập (La chấn ngọc); Đôn hoàng xuyết tỏa (Lưu phục); Đôn hoàng thạch thất tả Kinh Đề kí dữ đôn hoàng tạp lục (Hứa quốc lâm); Minh Sa Dư Vận (Thỉ Xuy Khánh Huy); Đại chính tân tu Đại Tạng Kinh tập 85 Cổ dật bộ]. (xt. Đôn Hoàng Biến Văn).