Bích Nham Lục

《碧巖錄》 bì yán lù

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Hekiganroku: 10 quyển, trước tác do Viên Ngộ Khắc Cần () biên tập lại bản Tụng Cổ Bách Tắc ()Tuyết Đậu Trùng Hiển () đã từng thuyết giảng khắp nơi, được san hành vào năm thứ 4 (1300) niên hiệu Đại Đức (), gọi đủ là Phật Quả Viên Ngộ ThiềnBích Nham Lục (, Bukkaengozenjihekiganroku) hay còn gọi là Bích Nham Tập (, Hekiganshū). Tên bộ này phát xuất từ bức ngạch nơi Giáp Sơn Linh Tuyền Thiền Viện ()Khắc Cần đã từng trú trì. Mỗi tắc Công Án được hình thành bởi các phần như Thùy Thị (, lời tựa), Bổn Tắc (, Công Án); Bình Xướng () đối với Bổn Tắc, Tụng Cổ ()Bình Xướng đối với Tụng Cổ. Bổn Tắc và Tụng Cổ thì thuộc về phần của Tuyết Đậu Trùng Hiển, vốn là người được xem như là vị tổ thứ 3 của Vân Môn Tông, các Tụng Cổ của ông rất phong phú về tính chất văn học có truyền thống, cho nên được rất nhiều người ưa chuộng. Việc Khắc Cần tiến hành giảng nghĩa bộ này cũng là nhằm đáp ứng trào lưu đương thời. Bản Tụng Cổ Bách Tắc của Tuyết Đậu Trùng Hiển vừa hàm chứa sự châm biếm, mà cũng thể hiện tràn đầy niềm yêu thương đối với các bậc Thiền Sư ngày xưa. Viên Ngộ đã thêm vào đó những lời giáo giới cho hàng Đệ Tử mình cũng như những giai thoại trong lịch sử Thiền Tông mà người tu hành cần phải khắc cốt ghi tâm bằng các câu Thùy ThịBình Xướng. Đối ứng với Bổn Tắc và Tụng Cổ, Viên Ngộ đã thêm vào lời phê bình cay chua dưới hình thức gọi là Trước Ngữ, cho nên ba nhân vật là Thiền giả xuất hiện trong Công Án, cùng Tuyết Đậu và Viên Ngộ, vốn có các tánh khác nhau, đã được nối kết lại với nhau, và đây là tác phẩm rất hy hữu mang âm hưởng về mối quan hệ căng thẳng chồng chất lên nhau. Chính vì lẽ đó, khi tác phẩm này xuất hiện, đã được người đời tuyên truyền ngay lập tức, nhưng tương truyền Đệ Tử của Viên Ngộ là Đại Huệ Tông Cảo () lại cho rằng nó có hại cho người tu hành nên ông cho tập trung tất cả ấn bản rồi đem đốt hết. Tuy nhiên, ảnh hưởng của tác phẩm này quá to lớn, một số tập Công Án khác có hình thức tương tợ như vậy lại thay nhau ra đời như Tùng Dung Lục (, năm 1224, Tụng Cổ của Hoằng Trí Chánh Giác [], Bình Xướng của Vạn Tùng Hành Tú []), Không Cốc Tập (, năm 1285, Tụng Cổ của Đầu Tử Nghĩa Thanh [], Trước Ngữ của Đơn Hà Tử Thuần [], và Bình Xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân []), Hư Đường Tập (, Tụng Cổ của Đơn Hà Tử Thuần, Bình Xướng của Lâm Tuyền Tùng Luân), v.v. Thiền của Nhật Bản là sự di nhập của Thiền nhà Tống, cho nên Bích Nham Lục cũng được xem như là "thư tịch số một của Tông Môn", được đem ra nghiên cứu, giảng nghĩa, và từ thời Nam Bắc Triều trở đi thỉnh thoảng có khai bản ấn hành. Ngoài ra, Viên Ngộ Khắc Cần còn có trước tác Phật Quả Viên Ngộ Kích Tiết Lục (, Niêm Cổ của Tuyết Đậu Trùng Hiển, Trước NgữBình Xướng của Viên Ngộ Khắc Cần) và nó cũng được lưu hành rộng rãi. Còn Thỉnh Ích Lục (, năm 1230, Niêm Cổ của Hoàng Trí Chánh Giác, Trước NgữBình Xướng của Vạn Tùng Hành Tú) là bản mô phỏng theo tác phẩm Phật Quả Viên Ngộ Kích Tiết Lục này. Bản Bích Nham Lục hiện tồn là bản do Trương Minh Viễn () nhà Thục san hành vào năm thứ 4 niên hiệu Đại Đức (), có khác với Tụng Cổ Bách Tắc về thứ tự của các tắc Công Án. Tại Nhật Bản, Bản Ngũ Sơn cũng là bản khắc lại nguyên hình bản của Trương Minh Viễn. Tuy nhiên, trong bản này có lời hậu tựa của Quan Vô Đảng () ghi năm thứ 7 (1125) niên hiệu Tuyên Hòa (), và lời tựa của Phổ Chiếu () ghi năm thứ 2 (1128) niên hiệu Kiến Viêm (), chúng ta biết được rằng trước đó đã có san hành rồi. Như trong lời hậu tựa của Hư Cốc Hy Lăng () có đoạn: “Ngu trung Trương Minh Viễn, ngẫu hoạch tả bản hậu sách, hựu hoạch Tuyết Đường san bản cập Thục Bản, hiệu đính ngoa suyễn, san thành thử thư (, Trương Minh Viễn tình cờ có được quyển sau của tả bản trong hẽm núi, lại có thêm san bản của Tuyết Đường và bản nhà Thục, bèn hiệu đính những chỗ sai lầm, in thành sách này)” và san bản của Tuyết Đường Đạo Hạnh () cũng nói lên vấn đề trên.