Bát Vạn Tứ Thiên Pháp Tạng

《八萬四千法藏》 bā wàn sì qiān fǎ cáng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tám vạn bốn nghìn Pháp Tạng. Chỉ cho toàn bộ giáo pháp do đức Phật nói. Cũng gọi Bát Vạn Tứ Thiên độ môn, Bát Vạn Tứ Thiên pháp tụ, Bát Vạn Tứ Thiên Pháp Uẩn. Nêu số chẵn thì gọi Bát vạn Pháp Tạng, Bát vạn tạng. Tạng, nghĩa là chứa đựng, bao hàm. Đứng về phương diện giáo pháp do đức Phật nói gọi là Pháp Tạng, đứng về phương diện ý nghĩa của giáo pháp gọi là Pháp Môn. Chúng Sinh có tám vạn bốn nghìn bệnh Phiền Não, đức Phật nói tám vạn bốn nghìn Pháp Môn để Đối Trị bệnh của Chúng Sinh. Cứ theo Duy Ma nghĩa kí quyển 7 của ngài Tuệ viễn nói, thì cái gọi là tám vạn bốn nghìn độ môn là trong ba trăm năm mươi môn Công Đức của Phật, mỗi môn đều có sáu độ Bố Thí, giữ giới, nhịn nhục, Tinh Tiến, thiền định, trí tuệ, cộng lại thành 2100 (350x6) độ môn. Đối với các Phiền Não tham dâm sân si mà chia thành bốn loại Chúng Sinh, mỗi loại đều dùng 2.100 độ môn này mà giáo hoá mở bày, hợp lại thành 84.000 (2.100x4) độ môn, một biến làm mười (84.000x10), thành tám vạn bốn nghìn độ môn. [X. Tát Bà Đa tì ni tì Bà Sa Q. 1.; luận Câu xá Q. 1.].