Bảo Triện

《寶篆》 bǎo zhuàn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa chính. (1) Chỉ cho dấu ấn của vua Nghiêu tương truyền do chim Phụng Hoàng trao; vì văn khắc trên con dấu như chữ Triện, nên có tên gọi như vậy. Về sau, từ này được dùng tượng trưng cho sách đồ lục (), tức sách mệnh của thiên thần ban cho. Như trong bài tựa của Càn Nguyên Điện Tụng (殿) do Vương Bột (, 649-675) nhà Đường sáng tác có đoạn: “Linh hào mật phát, bát phương chiêu Đại Hữu chi hòa; Bảo Triện tiềm khai, Lục Hợp khải Đồng Nhân chi hội (, quẻ Hào mật phát, tám phương bày Đại Hữu hài hòa; ấn bàu thầm khai, Lục Hợp mở Đồng Nhân tụ hội).” (2) Từ mỹ xưng của hương thơm, vì khi đốt, khói quyện tỏa hình dáng như chữ Triện. Như trong bài Ký Ngọc Sơn Thi () của Trần Cơ (, 1314-1370) nhà Nguyên có câu: “Bảo Triện Phần Hương lưu thùy áp, thải tiên hàng mặc tả lai cầm (, triện báu hương xông vịt ngái ngủ, giấy tiên mực vẽ chim bay về).” Hay trong Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083) quyển 1, phần Duyên Khởi Văn (), có đoạn: “Hương phần Bảo Triện, đằng Ngũ Sắc chi vân hà; chúc trán Kim Liên, xán nhất thiên chi tinh đẩu; pháp nhạc tấu Vô Sanh chi khúc, Phạm Âm diễn tối thượng chi tông (, hương xông triện báu, vọt năm sắc ấy mây lành; nến gắn sen vàng, rực một trời muôn sao sáng; pháp nhạc tấu Vô Sanh điệu khúc, Phạm Âm diễn tối thượng Tông Phong).”