Bản Tịch

《本寂》 běn jì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(840 - 901) Vị Thiền tăng đời Đường. Người huyện Bồ điền (Cổ điền, Phúc kiến) Tuyền châu, họ Hoàng. Là pháp tự của tổ Lương giới ở Động sơn thuộc tông Tào động. Đời gọi là Tào Sơn Bản Tịch. Lúc nhỏ học Nho. Mười chín tuổi đến núi Linh thạch huyện Phúc đường Phúc châu Xuất Gia. Hai mươi lăm tuổi Thụ Giới Cụ Túc. Khoảng năm Hàm thông (860 - 873) Thiền Phong cực thịnh, sư đến ra mắt tổ Lương giới ở Động sơn, rồi đi lại hỏi đạo và ngấm ngầm lãnh hội được ý chỉ sâu kín của Tông Môn. Sau mở trường Thuyết Pháp tại huyện Cát thủy Vũ châu, đổi tên là Tào Sơn để bày tỏ tình nhớ mến Tào Khê. Không bao lâu, rời đến ở núi Hà ngọc (có thuyết nói sư đã đổi tên núi này thành Tào Sơn), Học Đồ vân tập, Tông Phong Động môn lừng lẫy, truyền trao chỉ quyết Ngũ Vị của Động sơn thành tiêu chuẩn của Tùng Lâm, đồng thời giảng thơ Hàn Sơn để nuôi chí người học. Lúc bấy giờ có họ Chung ở Hồng châu thỉnh mấy lần mà sư không đi, chỉ chép một bài thơ Cư sơn tụng của Pháp thường ở Đại mai để đáp lại lời mời. Tháng 6 đầu năm Thiên phục, thắp hương an tọa mà tịch, thọ sáu mươi hai tuổi. Sắc Thụy là Nguyên chứng Thiền Sư. Về sau, Tông Phong Động sơn, Tào Sơn càng thịnh, Môn Đồ mỗi ngày một đông, bèn gọi là Tào Động Tông. Trứ tác có Tào Sơn Ngữ Lục 2 quyển. Môn nhân có Tuệ hà ở Tào Sơn, Tòng chí ở Kim phong, Xử chân ở Lộc môn, Quang tuệ ở Hà ngọc và Hoằng thông ở Dục vương. [X. Tống Cao Tăng Truyện Q. 3.; Cảnh Đức Truyền Đăng Lục Q. 17.; Ngũ Đăng Hội Nguyên Q. 13.].