Bắc Đẩu

《北斗》 běi dǒu

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: nói đủ là Bắc Đẩu Thất Tinh (), tức 7 ngôi sao có hình cái muỗng tụ lại ở phương Bắc, cách xa Bắc Cực khoảng 30 độ, gồm Thiên Xu (), Thiên Tuyền (), Thiên Ki (), Thiên Quyền (), Ngọc Hành (), Khai Dương () và Dao Quang (). Trong Thiên Văn, chùm sao này được gọi là Đại Hùng Tinh (), tên tục là Tham Lang Tinh (), Cự Môn Tinh (), Lộc Tồn Tinh (祿), Văn Khúc Tinh (), Liêm Trinh Tinh (), Võ Khúc Tinh (), và Phá Quân Tinh (), v.v. Theo quan niệm cổ đại, Thiên Xu được xem như là Chánh Tinh, chủ về dương đức; Thiên Tuyền là Pháp Tinh, chủ về âm hình; Thiên Ky là Lịnh Tinh, chủ về phạt hại; Thiên Quyền là Phạt Tinh, chủ về thiên lý; Thiên Hành là Sát Tinh, chủ cả trung ương và bốn phương; Khai Dương là Nguy Tinh, chủ Thiên Thực Ngũ Cốc; và Dao Quang là Bộ Tinh, chủ về binh lính. Tôn Tinh Vương Pháp, Bắc Đẩu Pháp, Bắc Đẩu Hộ Ma Pháp, v.v., của Mật Giáo đều là pháp cầu đảo chùm sao này. Ngoài ra, trong Thiền Môn có câu “Bắc Đẩu lí tàng thân (, ẩn thân trong sao Bắc Đẩu)” muốn ám chỉ Thần Thông Diệu Dụng của Thiền Sư, giống như ẩn thân trong sao Bắc Đẩu. Trong Vân Môn Khuôn Chơn Thiền Sư Quảng Lục () có đoạn rằng: “Vấn: 'Như hà thị thấu Pháp Thân cú ?' Sư vân: 'Bắc Đẩu lí tàng thân' (, Hỏi rằng: 'Thế nào là câu thấu triệt Pháp Thân ?' Sư đáp: 'Ẩn thân trong sao Bắc Đẩu').”