Án Đạt La Vương Triều
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Án-đạt-la, Phạm: Andhra. Còn gọi là Án-đà-la vương triều. Là Vương triều thống lãnh miền nam Ấn Độ sau khi vua A Dục băng hà. Từ năm 232 sau Tây lịch, trải ba mươi đời, gồm bốn trăm năm mươi năm. Theo truyền thuyết, Vương triều này là chủng tộc Nhã-lợi-an (Aryan) lai dân địa phương. Trước ngày độc lập thống nhất, có ba mươi Đô Thị, vô số làng mạc, mười vạn bộ binh, hai nghìn kị binh, một vạn thớt voi, vũ lực rất mạnh. Vì vua đời thứ nhất là Thi-ma-ca (Phạm: Simuka), họ là Sa-đa-bà-ha (Phạm: Sàtavàhana), cũng tức là tên gọi dòng Vương thất. Cuối thế kỉ thứ nhất Tây lịch, Án-đạt-la bị hai bộ tộc thuộc dòng Thích Ca xâm lược, đến năm 106, vua Kiều-đạt-di-phổ-đặc-la-tất-đạt-tạp-nhĩ-ni (Phạm: Gautamìputra zàtakarịi) lên ngôi mới chấn Hưng Thế nước. Về sau, vận nước lại dần dần suy đồi, cho đến năm 225 Tây lịch thì diệt vong. Năm 200 Tây lịch, Vương triều Án-đạt-la bảo hộ việc xây dựng di Tích Phật giáo nổi tiếng là tháp A-ma-la-bà-đề (Phạm: Amaràvatì) và đục mở các chùa viện hang động ở A-chiên-đà (Phạm: Ajantà) thời kì đầu, lại vào thời vua Da-kì-na-xá-lợi (Phạm: G. Yajĩazri), đem dâng cúng hang núi Hắc phong cho nhà Đại Thừa Phật Giáo lừng danh là ngài Long Thụ (Phạm:Nàgàfjuna). Bởi thế, Vương triều này, đối với Đại Thừa Phật Giáo, đã có những cống hiến cực lớn. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 10 chép, thì đô thành nước Án-đạt-la là Bình-kì-la, phong tục mạnh mẽ dữ tợn, toàn quốc có hơn hai mươi ngôi chùa, Tăng Đồ hơn ba nghìn người. Về phía Nam không xa, có một ngôi Tốt-đổ-ba (tháp) do vua Vô-ưu (A Dục) xây, đánh dấu một trong những nơi đức Phật đã đến nói pháp. Chỗ cách đô thành về mạn tây nam hơn hai mươi dặm, có một quả núi trơ trọi, trên chóp núi có tháp đá là nơi thuở xưa ngài Trần Na làm luận Nhân Minh. Tây-vực-kí còn nói, về phía đông Nam Án-đạt-la-là nước Đà-na-yết-trách-ca, mà cũng được gọi là nước Đại-án-đạt-la. [X. Nam Hải Kí Qui Nội Pháp Truyện Q. 4.; Giải Thuyết Tây Vực Kí; Đông Nam Ấn Độ chư quốc đích nghiên cứu.]