A La Hán
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: arhat, Pāli: arahant Jātaka: arakan: âm dịch là Ứng Cúng Phước Điền, Sát Tặc, Vô Học, là người đã đoạn tận hết tất cả Phiền Não, đã hoàn thành tất cả những việc mình nên làm. Là một vị thánh giả tối cao của Đệ Tử Phật (Thanh Văn), vị này Chứng Quả A La Hán thứ 8 của tứ hướng và tứ quả (quả vị được phân loại thành 8 giai đoạn theo cảnh giới mà vị ấy đạt được). Bên cạnh đó đây còn là một trong mười Danh Hiệu của một đấng Như Lai. Cho nên A La Hán còn được dùng chỉ cho tự thân của đức Phật, trong trường hợp này từ Ứng Cúng được dùng nhiều hơn. Nguyên gốc của từ này có nghĩa là “người có tư cách”, vì vậy người này xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường về y thực, v.v., của hàng Tín Đồ. Cho nên được gọi là Ứng Cúng. Hơn nữa, nhờ có sự cúng dường của hàng Tín Đồ mà có Công Đức to lớn, người này được ví dụ như là mảnh ruộng ban phước cho Tín Đồ, nên được gọi là Phước Điền. Lại nữa, người này đã giết hết loại giặc Phiền Não nên cũng được gọi là sát tặc. Vị này đã đoạn sạch hết tất cả Phiền Não không còn gì để học nữa nên được gọi là vô học. Trong quyển I của Kinh Tạp A Hàm (雜阿含經) giải thích người đã Chứng Quả A La Hán là “Ngã sanh dĩ tận, Phạm Hạnh dĩ lập, Sở Tác dĩ tác, tự tri bất thọ Hậu Hữu (我生巳盡、梵行巳立、所作巳作、自知不受後有, mạng sống của ta đã hết, Phạm Hạnh đã thành lập, những điều nên làm đã làm, tự biết không còn thọ sanh về sau nữa),” và gọi người ấy là người đã đạt được Tận Trí, Vô Sanh trí. Sau này trong A Tỳ Đạt Ma (阿毘達磨), tùy theo trí tuệ và Căn Cơ của vị A La Hán, người ta phân ra làm sáu loại gồm: Thối Pháp, Tư Pháp, Hộ Pháp, An Trú Pháp, Kham Đạt Pháp và Bất Động Pháp.